Sunday, March 15, 2026
spot_img
Home Blog Page 20

Hạt giống nảy mầm | Tuần III | Phục sinh

CHÚA NHẬT III PHỤC SINH

Lc 24,13-35

A. Hạt giống…

Trong câu chuyện hai môn đệ Emmau nhận biết Chúa Giêsu phục sinh, thánh Luca chỉ kể tên một người là Clêôpát. Có nhà chuyên môn Thánh Kinh nói rằng Thánh Luca cũng biết tên người kia nhưng ông không kể ra, vì có ý coi người kia là đại diện cho bất cứ môn đệ nào của Chúa Giêsu. Nói cách khác, bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể có được cảm nghiệm về sự nhận biết Chúa Giêsu phục sinh như người môn đệ ấy. 

Vậy nhờ đâu mà hai môn đệ này cảm nghiệm được sự hiện diện gần gũi của Chúa Giêsu phục sinh ?

– Thứ nhất là nhờ Thánh Kinh : “Khi Ngài nói chuyện và giải thích Thánh Kinh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bùng cháy lên đó sao !”.

– Thứ hai là nhờ bí tích Thánh thể : “Ngài cầm lấy bánh, chúc tụng, tạ ơn, bẻ ra và trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Ngài”.

– Thứ ba là nhờ cuộc sống cộng đoàn : “Họ quay trở lại Giêrusalem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó”.

B. … nảy mầm.

1. Chúa Giêsu không phải là một nhân vật của quá khứ. Ngài đang sống ngay sát bên cạnh ta tuy giác quan ta không cảm thấy Ngài. Có lẽ từ trước tới nay, tôi chỉ tin điều này một cách “lý thuyết”. Nếu tôi thực sự tin và sống với Đấng phục sinh đang ở bên cạnh tôi thì cuộc đời tôi sẽ khác, và hiệu quả những hành động của tôi cũng sẽ khác rất nhiều.

2. Khi ta sốt sắng đọc Thánh Kinh, tham dự Thánh lễ và sống tình hiệp nhất cộng đoàn thì ta có thể cảm thấy sự hiện diện gần gũi của Chúa Giêsu phục sinh.

3. Nhiều người coi Chúa là ma và sợ Chúa như sợ ma. Chúa không muốn như vậy : Ngài muốn ta coi Ngài là một người sống, và hãy yêu thương phó thác vào Ngài.

4. Noreen Towers là một người làm việc phục vụ cho những người nghèo. Nhưng cô chán nản vì thấy hầu như những việc làm của mình không thành công. Một tối kia cô giật mình thức giấc và cảm thấy hình như Chúa Giêsu đang nói chuyện với cô, Ngài hỏi : “Con không thể tin vào chương trình của Thầy đã vạch sẵn cho con ư ?”. Một thoáng cảm nghiệm chóng qua ấy đã thay đổi hẳn con người cô : từ một người chán chường, cô đã trở thành một người có đức tin không thể nào lay chuyển nổi. (Mark Link, Vison 2000)

5. “Chúa Giêsu Kitô có cách nào khác để đi vào lòng người nếu không phải là qua một trái tim tan nát ?” (Oscar Wilde).

Sống Lời Chúa mỗi ngày | Tuần III | Phục sinh | Năm A   

0

SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN III PHỤC SINH NĂM A

CHÚA NHẬT

LỜI CHÚA : Lc 24, 13-35

Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra. Đang khi họ nói truyện và trao đổi ý kiến với nhau, thì chính Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ, nhưng mắt họ bị che phủ nên không nhận ra Người. Người hỏi: “Các ông có truyện gì vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy?” Một người tên là Clêophas trả lời: “Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở Giêrusalem mà không hay biết những sự việc vừa xảy ra trong thành mấy ngày nay”. Chúa hỏi: “Việc gì thế?” Các ông thưa: “Sự việc liên can đến ông Giêsu quê thành Nadarét. Người là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ, trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng. Thế mà các trưởng tế và thủ lãnh của chúng ta đã bắt nộp Người để xử tử và đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel. Các việc ấy đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả thật, đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã nói; còn Người thì họ không gặp”. 

Bấy giờ Người bảo họ: “Ôi kẻ khờ dại chậm tin các điều tiên tri đã nói! Chớ thì Đấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang sao?” Đoạn Người bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người. Khi gần đến làng hai ông định tới, Người giả vờ muốn đi xa hơn nữa. Nhưng hai môn đệ nài ép Người rằng: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều, và ngày sắp tàn”. Người liền vào với các ông.

Đang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Đoạn Người biến mất. Họ bảo nhau: “Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong ta, khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?” Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. Họ bảo hai ông: “Thật Chúa đã sống lại, và đã hiện ra với Simon”. Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào.    

SUY NIỆM:

Đường Emmaus là đường của mỗi chúng ta, vì rất nhiều khi trong cuộc đời chúng ta chán nản, thất vọng, gặp những điều trái ý, chúng ta muốn bỏ cuộc…

Nhưng rõ ràng trong mọi cảnh huống cuộc đời, Thiên Chúa không bao giờ để chúng ta đơn độc. Ngay cả khi các môn đệ tưởng rằng Thầy Giêsu đã chết, nhưng đâu ngờ Thầy vẫn âm thầm dõi theo bước chân của họ, cùng đi với họ trong lúc họ đã mất hết niềm hy vọng.

Ngài dùng mọi cách để các ông có thể tiếp cận với lời Chúa, vì chỉ nhờ lời Chúa các ông mới có thể hiểu được mầu nhiệm Tử nạn – Phục sinh.

Ngài vẫn ân cần cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông; một hành động quen thuộc, nhưng là cử chỉ yêu thương để muốn nói rằng: Thầy yêu các con đến cùng.

Chính vì thế dù mọi cảnh huống cuộc đời có như thế nào đi chăng nữa, chúng ta cũng hãy luôn luôn bám vào lời Chúa và Bí tích Thánh Thể, vì đó chính là nguồn lực giúp ta vượt qua những đau khổ, buồn chán, thất vọng để đạt đến niềm vui Phục Sinh cùng với Thầy Giêsu.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, dù cuộc đời có như thế nào đi chăng nữa, xin cho con luôn nhớ rằng Chúa đã Phục Sinh. Alleluia.

THỨ HAI

LỜI CHÚA: Ga 6, 22-29

Hôm sau, đám người còn ở lại bên kia biển thấy rằng không có thuyền nào khác, duy chỉ có một chiếc, mà Chúa Giêsu không lên thuyền đó với các môn đệ, chỉ có các môn đệ ra đi mà thôi. Nhưng có nhiều thuyền khác từ Tibêria đến gần nơi dân chúng đã được ăn bánh sau khi Chúa dâng lời tạ ơn. Khi đám đông thấy không có Chúa Giêsu ở đó, và môn đệ cũng không, họ liền xuống các thuyền kia và đến Capharnaum tìm Chúa Giêsu.

Khi gặp Người ở bờ biển bên kia, họ nói với Người: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ?” Chúa Giêsu đáp: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm ta không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê. Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi. Người là Đấng mà Thiên Chúa Cha đã ghi dấu”. Họ liền thưa lại rằng: “Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa?” Chúa Giêsu đáp: “Đây là công việc của Thiên Chúa, là các ngươi hãy tin vào Đấng Ngài sai đến”.

SUY NIỆM:

Chúa Giêsu đã nói lên thực tế phũ phàng vào thời của Ngài: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm ta không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê.”

Một số người không thấy giá trị cao cả mà Chúa muốn giới thiêu, họ chỉ thấy giá trị phàm tục trước mắt là ăn bánh no nê, thế thôi!

Nhưng liệu cái no có đủ đảm bảo hạnh phúc cho con người không? Thưa không, vì thực tế có những người chẳng những no mà còn tràn trề, còn tích cóp để dành nhưng vẫn đau khổ và bất hạnh; nhưng có những người không đủ no, vất vả suốt cuộc đời chỉ có miếng ăn tạm đủ, nhưng họ vẫn hạnh phúc, tươi cười.

Thế thì điều gì là căn bản con người cần tìm kiếm? “Hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi.”

Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ của mình đừng để cuộc đời mình bị nhấn chìm bởi những giá trị tầm thường trước mắt, nhưng hãy biết hướng đến những giá trị cao cả hơn, mà giá trị cao cả nhất chính là ơn cứu độ, là sự sống đời đời cho con người.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, xin cho con có cái nhìn linh thánh trong mọi sự để vượt qua những cám dỗ nhỏ nhoi, tầm thường của cơm áo gạo tiền mà cố gắng đạt đến giá trị vĩnh cửu trên trời là ơn cứu độ mà Chúa Giêsu đã chuộc lại cho chúng con bằng chính cái chết của Ngài.

THỨ BA: THÁNH MARCÔ

LỜI CHÚA: Mc 16, 15-20

Khi ấy, Chúa Giêsu hiện ra với mười một môn đệ và phán: “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin mừng cho mọi tạo vật. Ai tin và chịu phép rửa, thì sẽ được cứu độ; ai không tin, sẽ bị luận phạt. Và đây là những phép lạ đi theo những người đã tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, nói các thứ tiếng mới lạ, cầm rắn trong tay, và nếu uống phải chất độc, thì cũng không bị hại; họ đặt tay trên những người bệnh, và bệnh nhân sẽ được lành mạnh”.

Vậy sau khi nói với các môn đệ, Chúa Giêsu lên trời, và ngự bên hữu Thiên Chúa. Phần các ông, các ông đi rao giảng khắp mọi nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và củng cố lời giảng dạy bằng những phép lạ kèm theo.   

SUY NIỆM:

Đức Giêsu Phục Sinh không chỉ đem niềm vui đến cho các môn đệ, mà còn muốn từ các ông đến khắp tứ phương thiên hạ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ” (Mc 16, 15).

Để làm bằng chứng cho những lời rao giảng của các môn đệ, Đức Giêsu hứa ban cho các ông quyền năng: “Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe” (Mc 16,17-18).

Quyền năng đó không chỉ dành cho các môn đệ ngày xưa, nhưng vẫn được ưu ái dành cho các môn đệ của Đức Giêsu ngày hôm nay, khi họ biết “nhân danh Đức Giêsu” để loan báo Tin Mừng.

Họ vẫn trừ được quỷ, nghĩa là đánh đuổi được những mưu mô cám dỗ về điều ác.

Họ nói tiếng lạ, nghĩa là nói lời chân lý, lời sự thật trong cuộc sống hôm nay.

Họ không sợ rắn và thuốc độc, nghĩa là những thứ nguy hiểm sẽ không thấm nhập được vào người của họ, vì họ có sức mạnh của Đức Giêsu.

Ngày xưa các môn đệ đặt tay chữa bệnh cho người khác, thì hôm nay môn đệ của Đức Giêsu vẫn đặt tay để chữa người ta lành bằng tình yêu thương của họ, khi họ dám đụng chạm đến những mảnh đời bất hạnh.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, thánh Maccô đã được Chúa soi sáng, hướng dẫn để viết lên lời Chúa trong Tin mừng của Ngài, cho muôn dân nhận biết Chúa. Đó cũng là sứ mạng của mỗi người chúng con. Xin Chúa giúp chúng con luôn ý thức sứ mạng của mình, để sống gắn bó với Chúa, hầu có thể kể về Chúa cho người khác.

THỨ TƯ

LỜI CHÚA: Ga 6, 35-40

Khi ấy, Chúa Giêsu phán với đám đông rằng: “Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ. Nhưng Ta đã bảo các ngươi rằng: Các ngươi đã thấy Ta, nhưng các ngươi không chịu tin. Những ai Cha đã ban cho Ta sẽ đến với Ta. Và ai đến với Ta, Ta sẽ không xua đuổi ra ngoài. Bởi vì Ta từ trời xuống không phải để làm theo ý Ta, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai Ta. Vậy ý của Cha, Đấng đã sai Ta, là hễ sự gì Người đã ban cho Ta, Ta chẳng để mất, nhưng ngày sau hết, Ta sẽ cho nó sống lại. Quả vậy, ý của Cha Ta là hễ ai thấy Con và tin vào Người thì có sự sống đời đời”.

SUY NIỆM:

Chúa Giêsu đến thế gian để thực hiện ý định của Chúa Cha, mà chính Ngài đã măc khải: “Ý muốn của Cha Ta là: hễ ai thấy Con thì có sự sống đời đời”. Như vậy, Chúa Cha đã trao phó cho Chúa Con ơn cứu độ của mỗi người chúng ta.

Không phải thấy Chúa Giêsu là đương nhiên được cứu độ như một thứ bùa chú, nhưng cái “thấy” ở đây bao gồm cả lý trí, ý chí và con tim, thấy không phải bằng đôi mắt, nhưng bằng trọn vẹn con người, nghĩa là tin nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ.

Hằng ngày tôi vẫn đọc kinh, cầu nguyện, tham dự thánh lễ… nhưng cuộc sống tôi chưa thay đổi là vì tôi chưa “thấy” Chúa trong những việc đạo đức tôi làm, có lẽ tôi chỉ làm vì thói quen?!

Tôi vẫn nghe lời Chúa dạy để làm việc bác ái rất nhiều, lặn lội khắp nơi để giúp đỡ người nghèo, cứu trợ người gặp khó… nhưng tôi vẫn chưa vui, chưa bình an, có lẽ tôi chưa “thấy” Chúa trong những người nghèo khổ, mà chỉ làm vì thói quen, vì tính cách, thậm chí có những người làm vì phô trương?!

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, xin cho con gặp Chúa mỗi ngày trong mọi việc và nơi mọi người, vì nếu nhận ra Chúa trong mọi sự con sẽ được sự sống đời đời.

THỨ NĂM

LỜI CHÚA: Ga 6, 44-51

Khi ấy, Chúa Giêsu phán với dân chúng rằng: “Không ai đến được với Ta, nếu Cha, là Đấng sai Ta, không lôi kéo kẻ ấy, và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Trong sách các tiên tri có chép rằng: ‘Mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy bảo’. Ai nghe lời giáo hoá của Cha, thì đến với Ta. Không một ai đã xem thấy Cha, trừ Đấng bởi Thiên Chúa mà ra, Đấng ấy đã thấy Cha. Thật, Ta bảo thật các ngươi: Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời. Ta là bánh ban sự sống. Cha ông các ngươi đã ăn manna trong sa mạc và đã chết. Đây là bánh bởi trời xuống, để ai ăn bánh này thì khỏi chết. Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống”.  

SUY NIỆM:

Chúa Giêsu nói lên sự thật để người Do Thái biết rằng họ đã vượt qua giai đoạn cũ kỹ của cha ông họ, thời mặc dù được Thiên Chúa cho ăn manna trong sa mạc, nhưng họ vẫn đói khát và phải chết. Nay họ có bánh trường sinh từ trời xuống để ai ăn bánh đó sẽ được sống muôn đời.

Chúa Giêsu phân biệt sự sống tự nhiên được nuôi dưỡng bằng thứ bánh tự nhiên, nhưng sẽ chấm dứt theo quy luật tự nhiên với sự sống siêu nhiên được nuôi dưỡng bằng bánh siêu nhiên để được sống muôn đời.

Từ đây dân chúng biết rằng mình không chỉ sống cho đời này, mà còn phải chuẩn bị cho đời sau. Muốn như vậy chỉ có con đường duy nhất là tin vào Chúa Giêsu, Đấng đã hiến mạng sống làm giá chuộc và lấy máu thịt mình để nuôi dân chúng.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, con đã được biết Chúa, đã tin và bước đi trên con đường của Chúa, là con đường cứu độ cho chính bản thân con. Xin Chúa cho con biết đón rước Chúa mỗi ngày bằng nhiều cách khác nhau, nhất là nơi Bí tích Thánh Thể, bánh ban sự sống, để con được nuôi dưỡng về phần linh hồn.

THỨ SÁU

LỜI CHÚA: Ga 6, 53-60

Khi ấy, những người Do-thái tranh luận với nhau rằng: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình mà cho chúng ta ăn được?”

Bấy giờ Chúa Giêsu nói với họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Đấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Đây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết. Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời”.

Người giảng dạy những điều này tại Hội đường Caphar-naum.    

SUY NIỆM:

Sự thật Chúa Giêsu mặc khải khiến một số người Do Thái không thể chấp nhận được, sự thật đó đã được nhắc đến trong đoạn Tin Mừng hôm qua, rằng Ngài sẽ nuôi dưỡng dân chúng bằng thịt và máu của Ngài.

Dân chúng không thể chấp nhận theo suy nghĩ tự nhiên “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình mà cho chúng ta ăn được?” Quả thật, theo tự nhiên thì không thể được và không thể chấp nhận.

Nhưng niềm tin Chúa Giêsu hướng đến cho nhân loại vượt lên trên lẽ tự nhiên, vì nếu theo tự nhiên con người không cần tìm đến với Chúa, họ sẽ sống mãi với những giá trị tự nhiên đó và sẽ mãi mãi trầm luân.

Niềm tin mà Chúa Giêsu gieo vào lòng nhân loại chính là giá trị siêu nhiên, cao vời vượt lên trên tất cả. Niềm tin đó không phải là thứ hão huyền, nhưng là sự thật được chứng minh bằng chính cuộc đời của Ngài.

Nếu Chúa Giêsu chỉ làm được những chuyện bình thường hoặc khoa học có thể chứng minh được thì đó cũng chỉ là  bình thường mà thôi; nhưng Chúa Giêsu hơn thế nữa, Ngài làm được những việc phi thường.

Việc phi thường nhất mà Chúa Giêsu đã làm là lấy Thịt Máu mình làm lương thực nuôi dưỡng con người.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, xin cho con tin vào Chúa không phải vì những gì con hiểu được, nhưng tin vào Chúa qua những việc nhiệm mầu Chúa đã làm cho con. Xin cho con biết tin tưởng vững vàng vào Bí tích Thánh Thể để nhờ đó con được sống và sống dồi dào như ý định của Chúa Cha.

THỨ BẢY

LỜI CHÚA: Ga 6, 61-70

Khi ấy, có nhiều môn đệ của Chúa Giêsu nói rằng: “Lời này chói tai quá! Ai nghe được!” Tự biết rằng các môn đệ đang lẩm bẩm về chuyện ấy, Chúa Giêsu nói với họ: “Điều đó làm các ngươi khó chịu ư? Vậy nếu các ngươi thấy Con Người lên nơi đã ở trước thì sao? Chính thần trí mới làm cho sống, chứ xác thịt nào có ích gì? Nhưng lời Ta nói với các ngươi là thần trí và là sự sống. Nhưng trong các ngươi có một số không tin”. Vì từ đầu Chúa Giêsu đã biết ai là những kẻ không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người. Và Người nói: “Bởi đó, Ta bảo các ngươi rằng: Không ai có thể đến với Ta, nếu không được Cha Ta ban cho”. Từ bấy giờ có nhiều môn đệ rút lui không còn theo Người nữa. Chúa Giêsu liền nói với nhóm Mười Hai rằng: “Cả các con, các con có muốn bỏ đi không?” Simon Phêrô thưa Người: “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa”.  

SUY NIỆM:

Đạo là con đường. Con đường Chúa Giêsu muốn giới thiệu không phải là con đường trãi thảm, rãi đầy hoa hồng… nhưng là sự thật phải được đánh đổi. Nó không phải là thuốc phiện để gây mê, mà nó chính là con đường chúng ta đi với đầy đủ mọi cung bậc, trong đó có cả những sự thật con người không thể chấp nhận được.

Khi nghe Chúa Giêsu nói về việc ăn thịt và uống máu Ngài, nhiều người đã bỏ đi vì họ chưa hiểu thấu đáo. Thịt và máu là thực sự, nhưng ở một hình dạng khác do quyền năng của Thánh Thần.

Khi muốn cùng đi chung trên một con đường, người ta phải bỏ qua những bất đồng về nhiều khía cạnh khác nhau, để cùng nhau tìm ra một lối đi chung, quan trọng là thiện chí của cả hai bên.

Con đường mà Chúa Giêsu muốn dẫn chúng ta đi là con đường mang lại niềm vui, hạnh phúc tròn đầy viên mãn, con đường mà Chúa phải đánh đổi bằng chính mạng sống Ngài. Vì thế đây là con đường đáng tin tưởng dù chúng ta chưa biết mình đi như thế nào.

Simon Phêrô đã đã nhận ra điều đó nên ông đã thay mặt anh em mình để xác quyết một điều: “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa”.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, ước gì lời của Simon Phêrô cũng là xác quyết của chúng con: “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời.”

Ôn tập Tin mừng Mátthêu

DẪN NHẬP

01. Dẫn nhập:

a. Mt còn tên gọi khác là gì?

– Lêvi.

b. Trước khi theo CGs, Mt làm nghề gì? Mt có thuộc nhóm 12 Tông đồ hay không?

– Mt làm nghề thu thuế.

– Mt thuộc nhóm 12 tông đồ.

c. Mt viết Tin mừng cho ai? (do thái hay dân ngoại) (độc giả). Viết Tin mừng để làm gì? (mục đích). Viết khi nào?

– Viết cho người Do thái (trong nước cũng như ngoài nước).

– Viết để chứng minh rằng CGS là Đấng Messia mà Thánh Kinh loan báo.

– Viết khoảng năm 80-90.

d. Tin mừng Mt có bao nhiêu chương?

– 28 chương

CHƯƠNG 1

02. Trong 4 tác giả Tin mừng, tác giả nào ghi lại chuyện thời thơ ấu của CGS?

  – Chỉ có Mt và Lc.

03. Gia phả (1,1-17):

a. Mt ghi gia phải của CGS để liên kết CGS với ai?

                  – Đavít và Abraham.

b. Trong gia phải chia làm mấy giai đoạn? Mỗi giai đoạn gồm bao nhiêu đời? Số đời này có ý nghĩa gì?

– Chia làm 3 giai đoạn.

– Mỗi giai đoạn 14 đời. Số 14 liên hệ đến tên vua Đa.vít, chứng tỏ Đức Giê-su là Đấng Messia dòng Đavít.

c. Trong gia phả, Mt có nói đến mấy người đàn bà (không kể Đức Maria)? ý nghĩa là gì?

– 4 người đàn bà: Tama, Ra.kháp, Rút và vợ ông Urigia (bà Batshêba).

– Ý nghĩa: Chúa chọn những người bất thường vào chương trình cứu độ để chứng tỏ rằng trong CGS mọi bức tường ngăn cách bị phá huỷ (dân ngoại và do thái, phụ nữ và nam, thánh nhân và tội lỗi).

04. Truyền tin cho Giuse (1,18-25):

a. Ý định ban đầu của Giuse trước khi sứ thần báo tin là gì?

– Từ bỏ Maria cách kín đáo.

b. Sứ mệnh mà sứ thần trao cho Giuse?

– Đón nhận và bảo vệ cho Maria và Hài nhi Giêsu.

c. Đáp trả của Giuse với lời của sứ thần là gì?

– Vâng theo lời sứ thần.

CHƯƠNG 2

05. Các nhà đạo sĩ đến tìm Chúa (2,1-12):

a. Dấu chỉ Chúa ban cho các nhà đạo sĩ là gì? Họ đáp lại thế nào?

– Ngôi sao. Họ mau mắn lên đường để tìm Chúa.

b. Dấu chỉ Chúa ban cho các thượng tế và kinh sư là gì? Họ đáp lại thế nào?

– Thánh Kinh mà họ học biết. Họ không chịu lên đường.

c. Dấu chỉ Chúa ban cho Hêrôđê là gì? Họ đáp lại thế nào?

– Việc các nhà đạo sĩ hỏi đường và những lời Thánh Kinh mà các thượng tế và kinh sư nói. Nhưng ông chỉ muốn tìm để giết hài nhi Giê-su.

d. Chúa có tiếp tục ban dấu chỉ cho chúng ta không?

– Chúa tiếp tục ban dấu chỉ cho chúng ta qua các biến cố hằng ngày.

06. Đưa Hài Nhi Giêsu đi trốn (2,13-18):

a. Giuse đưa Maria và Hài nhi trốn sang đâu?

– Ai cập.

b. Từ con người Giuse trong câu chuyện này, chúng ta bài học gì?

– Vâng phục Thiên Chúa cách tuyệt đối và ra sức bảo vệ gia đình.

c. Từ con người Hêrôđê trong câu chuyện này, chúng ta bài học gì?

– Đam mê quyền lực dẫn đến tội ác.

– Mưu tính của con người không thắng được Thiên Chúa.

d. Khi trở về, họ ở đâu trong nước Palestin?

– Nadarét

CHƯƠNG 3

07. Gioan Tẩy Giả (3,1-12):

a. Cha mẹ của Gioan Tẩy Giả tên gì?

– Dacaria và Êlisabéth (Isave).

b. Chúa chọn Gioan Tẩy Giả để làm gì cho Chúa? Ông đã kêu gọi dân chúng làm gì?

– Chúa chọn ông làm tiền hô.

– Ông kêu gọi dân chúng sám hối.

08. CGS chịu phép rửa (3,13-17):

Qua biến cố phép rửa, Chúa Cha muốn nói gì về CGS?

– CGS là Con Thiên Chúa, rất đẹp lòng Người.

CHƯƠNG 4

09. CGS chịu cám dỗ (4,1-11):

a. CGS chịu mấy cuộc cám dỗ? Các cám dỗ đó là gì?

– 3 cuộc cám dỗ: bánh ăn, sụp lại ma quỷ và lao mình xuống từ trên cao.

b. CGS ở trong sa mạc bao nhiêu ngày? Con số này gợi lên điều gì?

– 40 ngày đêm. Con số này gợi lại thời gian thử thách của dân Israel 40 năm trong sa mạc.

c. Noi gương CGS, chúng ta phải làm gì để có thể chiến thắng cám dỗ?

– Dựa vào Lời Chúa để đi theo con đường của Chúa.

10. CGS kêu gọi 4 môn đệ đầu tiên (4,18-22):

a. 4 môn đệ đầu tiên tên là gì?

– Phêrô, Anrê, Gioan và Giacôbê.

b. Chúa gọi họ đang làm gì?

– Đang hành nghề đánh cá.

CHƯƠNG 5

11. Tám mối phúc (5,1-12):

a. CGS giảng một bài dài trên núi. Bài giảng này gọi là gì?

– Gọi là bài giảng trên núi.

b. Có mấy mối phúc mà CGS nói đến.

– 8 mối phúc

c. Tâm hồn nghèo khó nghĩa là gì?

– Là tâm hồn cậy dựa vào Chúa chứ không cậy dựa vào quyền thế hay vật chất…

12. Muối và ánh sáng (5,13-16):

     Là môn đệ CGS, chúng ta là muối và ánh sáng cho trần gian:

a. Là muối nghĩa là gì?

– Có nghĩa là tín hữu phải ướp cho đời không bị hư hoại mà mỗi ngày trở nên tốt hơn.

b. Là ánh sáng nghĩa là gì?

– Người tín hữu phải chiếu sáng cho thế giới bằng những việc tốt trong cuộc sống.

13: CGS kiện toàn lề luật (5,17-48):

Người ta kết án CGS vi phạm lề luật nhưng Ngài đến để kiện toàn luật: Kiện toàn một số luật thế nào?

– CGS kiện toàn lề luật nghĩa là giúp người ta sống đúng tinh thần của luật: yêu thương.

CHƯƠNG 6

14. Ba việc làm quan trọng (6,1-18) là bố thí, ăn chay, cầu nguyện, CGS dạy thế nào?

– Không làm vì khoe khoang nhưng làm vì lòng yêu mến.

15. Của cải đích thực (6,19-34):

Của cải đích thực là gì? Làm cách nào để tích trữ?

– Của cải đích thực là nước trời. Tích trữ của cải đích thực bằng cách làm những việc bác ái.

CHƯƠNG 7

16. Đừng xét đoán (7,1-5):

Tại sao chúng ta không được xét đoán (kết án)?

– Vì chúng ta ai cũng có lỗi và quyền kết án chỉ thuộc một mình Thiên Chúa.

17. Cứ xin thì được (7,7-11):

CGS khuyến khích chúng ta cứ xin.

a. Nhưng xin gì?

– Xin Chúa ban CTT để Người hướng dẫn chúng ta sống tốt.

b. Tại sao cứ xin?

– Cứ xin vì Thiên Chúa là Cha nhân từ sẵn sàng ban những điều tốt đẹp cho chúng ta.

18. Khuôn vàng thước ngọc (7,12-14):

Đâu là khuôn vàng thước ngọc mà CGS dạy chúng ta?

– Tất cả những gì anh em muốn người khác làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta.

19. Môn đệ chân chính (7,21-27):

Thế nào là một môn đệ chân chính của CGS?

– Đó là người nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.

CHƯƠNG 8

20. Chữa người cùi (8,1-4):

Lời cầu xin của anh cùi chứa đựng bài học về cầu nguyện đáng cho chúng ta học hỏi.  Đó là điều gì?

– Đó là cầu nguyện theo ý Chúa muốn chứ không phải ý muốn của chúng ta.

21. Chữa người đầy tớ viên đội trưởng (8,5-13):

Viên đội trưởng là mẫu gương cho các tín hữu về điều gì?

– Mẫu gương về đức tin.

22. CGS dẹp yên sóng biển (8,23-27):

CGS nói gì với các môn đệ và với sóng biển?

– CGS quở trách các môn đệ kém tin.

– CGS ra lệnh cho sóng biển yên lặng.

CHƯƠNG 9

23. Chữa người bại liệt (9,1-8):

CGS chữa người bại liệt nhờ lòng tin của ai?

– Lòng tin của những người khiêng anh đến, đó là sức mạnh lòng tin của cộng đoàn.

24. Kêu gọi Mt và tranh luận về quyền tha tội (9,9-13):

a. CGS gọi Mt khi ông đang làm gì?

– Ngồi bàn thu thuế.

b. Khi dùng bữa trong nhà Mt, CGS tranh luận với ai về quyền tha tội?

– Với những người biệt phái (Pharisiêu).

25. Chữa người phụ nữ bị băng huyết và con gái ông Giairô (9,18-26):

a. Người đàn bà bị băng huyết bao lâu?

– 12 năm.

b. Hai phép lạ này dạy điều gì?

– Lòng tin vào quyền năng của Chúa.

26. Thương dân chúng lầm than (9,35-38):

Thấy dân chúng bơ vơ nhưng đàn chiên không người chăn, CGS làm gì?

– Ngài chạnh lòng thương. 

CHƯƠNG 10

27. Sai các tông đồ (10,1-16):

a. CGS chọn bao nhiêu tông đồ?

– 12.

b. Hai nhiệm vụ chính của các tông đồ khi CGS sai họ đi là gì?

– Rao giảng Tin mừng.

– Chữa lành bệnh và trừ quỷ.

c. Phủ bụi chân nói lên điều gì?

– Là dấu hiệu nói lên sự đoạn tuyệt.

28. Nhưng đòi hỏi của người môn đệ (10,17-42):

a. Người môn đệ chắc chắn gặp khó khăn, thậm chí bị bách hại. CGS dạy họ thế nào?

– Đừng sợ nhưng kiên tâm, tin vào Chúa và hãy nói công khai.

b. CGS dạy điều gì khi nói: “ai yêu cha mẹ hơn Ta thì không xứng đáng là môn đệ Ta” (10,37) ?

– Hãy dành cho Ngài vị trí ưu tiên.

c. Đón tiếp các nhà truyền giáo là đón tiếp ai?

– Đón tiếp CGS và Chúa Cha.

CHƯƠNG 11

29. Câu hỏi của Gioan Tẩy Giả (11,1-15):

a. Gioan Tẩy Giả sai hai môn đệ đến hỏi CGS: “Thầy có phải là Đấng phải đến không?”. “Đấng phải đến” là ai?

– Chính là Đấng Messia hay Đức Kitô.

b. CGS nói gì về Gioan Tẩy Giả?

– Gioan Tẩy Giả là một người cao trọng, hơn cả các tiên tri ngày xưa.

30. CGS nói về thế hệ đương thời (11,16-19):

CGS dùng hình ảnh trẻ con chơi trò đám cưới và đám tang để nói lên thái độ của những người biệt phái và kinh sư. Thái độ đó là gì?

– Cứng lòng trước lời rao giảng của CGS.

31. CGS quở trách các thành (11,20-24):

Ba thành bị CGS quở trách là thành nào? Tội gì?

– 3 thành đó là: Khoradin, Bétxaiđa và Caphanaum.

– Tội của 3 thành: Cứng lòng tin dù chứng kiến nhiều phép lạ.

32. Mang lấy ách (11,28-30):

CGS bảo “hãy mang lấy ách của Ta?”. Ách của Ngài là gì?

– Mang lấy ách của CGS là học cách lấy lời dạy và cách sống của ngài, đó là tình yêu thương và sự hiền lành.

CHƯƠNG 12

33. Tranh luận về ngày Sabat (12,1-14):

Đâu là ý nghĩa đích thực của ngày Sabat mà CGS muốn dạy?

– Đó không phải là giữ những điều cấm kỵ, mà là cố gắng thánh hoá cho Chúa bằng những việc làm bác ái yêu thương.

34. Tội chống lại Chúa Thánh Thần (12,32):

CGS nói tội chống lại CTT thì không được tha. Tội chống lại CTT là tội gì?

– Đó là tội ngoan cố, không chịu lắng nghe lời TC để thay đổi cuộc sống.

35. Dấu lạ Giôna (12,38-42):

CGS lấy lại dấu lạ Giôna để nói điều gì với những người biệt phái và kinh sư?

– CGS muốn nhấn mạnh đến lòng sám hối của dân Ninivê, trái ngược với sự cứng tin của nhóm biệt phái và kinh sư?

36. Gia đình thật của CGS (12,46-50):

CGS dạy thế nào để trở nên gia đình của Ngài?

– Lắng nghe và thực hành lời Chúa.

CHƯƠNG 13

37. Dụ ngôn người gieo giống (13,1-23):

a. Có mấy loại đất? Chia thành mấy nhóm?

– Có 4 loại đất: Vệ đường, đá sỏi, gai gốc và đất tốt.

– Chia làm 2 nhóm: Nhóm không sinh hoa trái và nhóm sinh hoa trái.

b. Hạt giống là gì? Các loại đất ám chỉ điều gì?

– Hạt giống là lời Chúa.

– Các loại đất ám chỉ thái độ đón nhận lời Chúa của con người.

38. Dụ ngôn cỏ lùng (13,24-30.36-43):

Dụ ngôn cỏ lùng dạy điều gì về Thiên Chúa?

– Thiên Chúa không thích sự ác, nhưng Ngài kiên nhẫn với người tội lỗi. Ngài mong họ hoán cải để được sống.

39. Dụ ngôn hạt cải và nắm men (13,31-33.44-50):

Hai dụ ngôn này nói điều gì về Nước Trời?

– Dụ ngôn hạt cải: Nhấn mạnh sự phát triển bên ngoài của nước trời, từ nhóm nhỏ trở nên lớn.

– Dụ ngôn nắm men: Nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng bên trong. Nước trời ảnh hưởng và biến đổi thế giới.

40. Dụ ngôn kho báu và viên ngọc (13,44-46):

Hai dụ ngôn này nhấn mạnh điều gì?

– Nước Trời là kho báu cao quý nhất mà con người cần phải theo đuổi.

41. CGS trở về Nadarét (13,53-58):

Thái độ của dân thành Nadarét thế nào? Tại sao?

– Sửng sốt về lời dạy và các phép lạ CGS đã làm, nhưng họ không tin.

– Lý do: vì họ dựa vào nguồn gốc trần thế của Ngài: Con ông thợ mộc Giuse.

CHƯƠNG 14

42. Gioan Tẩy Giả bị giết (14,3-13):

a. Gioan bị giết bởi ai?

– Hêrôđê Antipas.

b. Tại sao Gioan bị giết?

– Tố cáo vua Hêrôđê loạn luân vì lấy chị dâu của mình.

43. Hoá bánh ra nhiều (14,13-21):

a. Mt kể lại mấy lần việc CGS làm phép lạ hoá bánh ra nhiều? Mỗi lần nuôi bao nhiêu người?

– 2 lần.

– Lần 1: 5000 người; lần 2: 4000 người.

b. Khi thấy dân chúng đói, giải pháp của CGS và các môn đệ thế nào? CGS dạy chúng ta bài học gì qua sự việc này?

– Giải pháp của các môn đệ là giải tán đám đông; nhưng giải pháp của CGS là phải lo cho họ.

– Bài học cho chúng ta: đứng trước nhu cầu của tha nhân, chúng ta cũng phải làm cái gì đó cho họ chứ không phải thoái thác.

44. CGS đi trên mặt nước (14,22-33):

a. Ai xin CGS được đi trên mặt nước như Ngài?

– Phêrô.

b. Người này bị chìm. Tại sao ông bị như thế?

– Vì ông yếu lòng tin, hoài nghi.

CHƯƠNG 15

45. Tranh luận về sạch và dơ 915,10-20):

Cái dơ đáng quan tâm mà CGS nói đến là gì?

– Đó là những ý định xấu xa trong tâm hồn của con người. Từ đó phát xuất tội lỗi.

46. CGS chữa con gái người đàn bà Canaan (15,21-28):

a. CGS nói với người đàn bà Canaan: “không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho chó”. Tại sao CGS nói thế?

– Vì Ngài muốn thử thách đức tin của bà.

b. Người đàn bà Canaan dạy chúng ta bài học gì?

– Bài học của đức tin.

CHƯƠNG 16

47. Men biệt phái (16,5-12):

a. Men biệt phái mà CGS nói đến là gì?

– Đó là giáo lý sai lạc và đời sống giả hình của họ.

b. CGS cảnh báo các môn đệ điều gì?

– Đừng để bị ảnh hưởng bởi men biệt phái, đó là lối sống giả hình.

48. Phêrô tuyên xưng đức tin (16,13-20):

a. Ông Phêrô tuyên xưng đức tin ở đâu?

– Xêdarê Philípphê.

b. Phêrô tuyên xưng thế nào?

– Ông nói: “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống“.

c. CGS trao chìa khoá cho Phê-rô nghĩa là gì?

– Trao quyền.

49. CGS báo cuộc thương khó (16,21-23):

a. Trong Tin mừng, có mấy lần CGS báo về cuộc thương khó?

– 3 lần.

b. Nội dung là gì?

– Ngài phải bị giết chết rồi phục sinh.

50. Điều kiện theo CGS (16,24-28):

CGS mời gọi người môn đệ vác thập giá theo Chúa. “Vác thập giá” nghĩa là gì?

– Nghĩa là bước theo con đường của Chúa, con đường khổ giá. Con đường khổ giá của mỗi người là những thử thách trong cuộc sống.

CHƯƠNG 17

51. CGS biến hình (17,1-8):

a. CGS biến hình ở đâu?

– Trên núi Tabor.

b. CGS mang theo các môn đệ nào?

– Phêrô, Gioan và Giacôbê.

c. Có ai hiện ra đàm đạo với CGS?

– Môsê và Êlia.

d. Tiếng từ trời là của ai? và nói điều gì?

– Đó là tiếng của Thiên Chúa. Thiên Chúa nói về CGS: “Đây là Con Yêu dấu của Ta. Hãy vâng nghe Lời Người“.

52. Câu hỏi về Êlia (17,9-13):

CGS nói với các môn đệ là Êlia đã đến rồi. Êlia mà CGS nói đến là ai?

  – Đó là Gioan Tẩy Giả.

53. Chữa đứa bé bị kinh phong (17,14-22):

Các môn đệ không thể chữa khỏi cho đứa bé bị kinh phong (do ma quỷ). Họ thiếu những điều kiện nào?

– 3 điều kiện này: Lòng tin, ăn chay và cầu nguyện.

54. Nộp thuế (17,24-27):

a. CGS có buộc phải nộp thuế cho đền thờ không? Tại sao?

– Không, vì là Con Thiên Chúa, là người nhà. Đền thờ là nhà Cha của Ngài.

b. CGS bảo Phêrô làm gì để nộp thuế?

– Đi câu cá để lấy đồng tiền để nộp thuế.

c. CGS bảo Phêrô nộp thuế cả cho Ngài. Việc làm này dạy ta bài học gì?

– Có những việc chúng ta được phép làm nhưng không nên làm vì khi làm thì gây cớ vấp phạm cho người khác.

CHƯƠNG 18

55. Đức khiêm nhường (18,1-4):

CGS dạy hãy trở nên như trẻ nhỏ để vào nước trời. Trở nên như trẻ nhỏ nghĩa là gì?

– Đó là khiêm nhường, tin tưởng và sống nương tựa vào Chúa.

56. Sự từ bỏ (18,8-11):

CGS dạy: “Nếu tay hoặc chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt…”. CGS muốn dạy điều gì?

– Phải biết hy sinh những gì có thể gây tội để được vào Nước Trời.

57. Con chiên lạc (18,11-14):

Con chiên lạc là những anh em bị sa ngã. CGS dạy chúng ta phải làm gì với những anh em này?

– Cần phải có thái độ khoan dung, tha thứ và tìm cách để giúp họ trở lại cộng đoàn.

58. Sửa lỗi anh em (18,15-18):

a. CGS dạy sửa lỗi anh em theo tiến trình nào?

– Sửa lỗi gồm 3 bước: Cá nhân với cá nhân; Nhóm nhỏ với cá nhân; mang ra cộng đoàn.

b. Tiêu chuẩn sửa lỗi anh em là gì?

– Đó là bác ái, nhằm cứu vãn và xây dựng.

59. Hiệp thông trong cầu nguyện (18,19-20):

Hai điều cần thiết trong cầu nguyện chung mà CGS dạy là gì?

– Tâm đầu ý hiệp.

– Nhân danh CGS.

60. Tha thứ (18,21-35):

CGS dạy phải tha bảy mươi lần bảy nghĩa là gì?

– Nghĩa là tha thứ luôn luôn.

CHƯƠNG 19

61. Câu hỏi về ly dị (19,1-9):

CGS dạy gì về hôn nhân?

– Luật hôn nhân phát xuất từ Thiên Chúa chứ không phải do Môsê.

– Ý định của Thiên Chúa là hôn phân không bao giờ bị phá huỷ.

62. Người thanh niên giàu có (19,16-22):

Anh thanh niên muốn nên hoàn thiện, nhưng tại sao anh không đạt được?

– Anh chưa dứt khoát vì lòng anh còn dính bén của cải.

63. Người giàu có khó giàu nước trời (19,23-26):

CGS dùng hình ảnh con lạc đà chui qua lỗ kim để diễn tả người giàu có khó giàu nước trời. Tại sao?

– Vì người ta dễ bị cám dỗ chạy theo và tôn thờ vật chất.

CHƯƠNG 20

64. Dụ ngôn thợ làm vườn nho (20,1-16):

Ông chủ trả lương cho người làm công nói lên điều gì về Thiên Chúa?

– Thiên Chúa công bình và hết sức rộng lượng.

65. Bà mẹ của Gioan và Giacôbê (20,20-23):

a. Bà xin CGS điều gì cho hai đứa con?

– Đứa được ngồi bên phải và đứa bên trái của CGS.

b. CGS nói đến chén đắng. Chén đắng nghĩa là gì?

– Chén đắng là cuộc thương khó của Ngài. Uống chén đắng là thông phần đau khổ với Ngài.

66. Ai làm lớn phải phục vụ (20,24-28):

Với CGS, người làm lớn là người thế nào?

– Là người phục vụ người khác.

CHƯƠNG 21

67. CGS vào thành Giêrusalem (21,1-11):

CGS cởi lừa vào thành nói lên điều gì?

– Đây là hình ảnh của một vị vua khiêm nhu và hoà bình.

68. Đánh đuổi những người buôn bán (21,12-17):

a. Tạo sao CGS nổi giận với những người buôn bán trong đền thờ?

– Vì họ biến đền thờ thành nơi buôn bán.

b. Tâm hồn chúng ta là đền thờ CTT. Chúa sẽ nổi giận khi đền thờ chúng ta bị ô uế. Điều gì làm cho đền thờ chúng ta ra ô uế?

– Đó là tâm hồn đầy ghen ghét, thù hận và tội lỗi.

69.  Dụ ngôn hai người con (21,28-32):

Qua dụ ngôn này, đâu là người con lý tưởng của Thiên Chúa mà CGS muốn dạy chúng ta?

– Đó là đứa con chấp nhận mệnh lệnh của Chúa và thực thi mệnh lệnh ấy.

70. Dụ ngôn tá điền sát nhân (21,33-45):

Các tá điền sát nhân trong dụ ngôn này là ai?

– Đó là giới lãnh đạo Do thái.

CHƯƠNG 22

71. Dụ ngôn tiệc cưới (22,1-14):

Cần có y phục lễ cưới để dự tiệc cưới. Tiệc cưới và y phục lễ cưới nghĩa là gì?

– Tiệc cưới: Ám chỉ hạnh phúc đời đời.

– Y phục lễ cưới: Là đời sống đức tin. Phải sống đời sống đức tin chúng ta mới được vào Nước Trời.

72. Nộp thuế cho Xêda (22,15-22):

CGS nói: “của Xêda trả cho Xêda, của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa” nghĩa là gì?

– Nghĩa là hãy chu toàn bổn phận với chính quyền nhưng cũng phải chu toàn bổn phận đối với Thiên Chúa.

73. Kẻ chết sống lại (22,23-33):

a. Nhóm biệt phái và nhóm Sađốc nhóm nào tin có sự sống lại?

– Biệt phái tin. Sađốc không tin.

b. CGS dạy gì về sự sống lại?

– Ngài xác định rằng có sự sống lại.

– Đó là sự sống vĩnh cửu, người ta sống như thiên thần.

74. Điều răn trọng nhất (22,34-40):

Điều răn trọng nhất là gì?

– Là yêu Thiên Chúa hết lòng, hết sức… và yêu tha nhân như chính mình.

CHƯƠNG 23

75. Sự giả hình của biệt phái và kinh sư (23,1-12):

Đâu là sự giả hình của biệt phái và kinh sư?

– Họ nói mà không làm; Họ làm để đề cao mình.

76. Quở trách thành Giêrusalem (23,37-39):

Đâu là tội của Israel và của Giêrusalem mà CGS quở trách?

– Giết các ngôn sứ.

– Từ chối Thiên Chúa.

CHƯƠNG 24-25

77. Dụ ngôn các cô trinh nữ (25,1-13):

a. Có mấy cô khôn ngoan và mấy cô khờ dại?

– 5 cô khôn ngoan và 5 cô khờ dại.

b. Thế nào là khôn ngoan?

– Đó là luôn sẵn sàng, chuẩn bị đầy đủ chờ Chúa đến.

78. Dụ ngôn nén bạc (25,14-30):

a. Tiêu chuẩn mà ông chủ xét xử các đầy tớ là gì?

– Đó là phải biết sinh lợi cho chủ.

b. Các nén bạc của chúng ta là gì? Chúa muốn gì nơi chúng ta?

– Đó là các khả năng Chúa ban. Chúa muốn chúng ta sinh lợi các nén bạc ấy: phục vụ Chúa và tha nhân.

79. Phán xét (25,31-46):

a. Chiên và dê tượng trưng cho ai?

– Chiên tượng trưng cho người lành; dê tượng trưng cho kẻ dữ.

b. Tiêu chuẩn Chúa phán xét là gì?

– Là tình yêu thương mà chúng ta dành cho tha nhân khi còn sống.

CHƯƠNG 26-27

80. CGS chịu thương khó trong thời vị thượng tế nào?

– Caipha.

81. Cuộc thương khó diễn ra trong dịp lễ gì của người Do thái? Ý nghĩa gì đối với CGS?

– Lễ Vượt Qua.

– Ý nghĩa: CGS là Chiên Vượt Qua hy sinh mạng sống để cứu nhân loại khỏi nô lệ tội lỗi.

82. Xức dầu (26,6-13):

a. Ở đâu?

– Làng Bêtania, cách Giêrusalem 5km, tại nhà ông Simon cùi.

b. Ai xức dầu cho CGS?

– Maria, em của Mátta.

c. Xức dầu cho CGS mang ý nghĩa gì?

– Hành động ám chỉ mai táng cho CGS.

83. Ai nộp CGS? Người Do thái trả cho người này bao nhiêu tiền?

– Giuđa Iscariốt, một trong 12 tông đồ.

– Người Do thái trả cho ông 30 đồng.

84. Tiệc ly (26,17-35):

a. Dấu hiệu chứng tỏ người mà CGS báo là sẽ nộp Ngài?

– Kẻ giơ tay chấm chung đĩa với Ngài. Đó là Giuđa.

b. Phêrô phản ứng thế nào khi CGS báo rằng ông sẽ chối Chúa? Kết quả ra sao?

– Khẳng định mạnh mẽ dù chết cũng không bỏ Chúa.

– Kết quả: Đúng như CGS nói. Ông đã chối thầy.

85. Trong vườn cây dầu và bị bắt (26,36-56):

a. Vườn cây dầu còn gọi là gì?

– Ghếtsêmani hay núi Ôliu.

b. CGS cầu nguyện với Chúa Cha điều gì?

  – Xin Chúa Cha cất chén đắng nhưng luôn theo ý Chúa Cha.

c. CGS kêu gọi các môn đệ điều gì?

– Tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ.

d. Giuđa dùng dấu hiệu gì để cho quân lính bắt CGS?

– Nụ hôn.

e. Một môn đệ bênh vực CGS, ông làm gì? Môn đệ ấy tên gì?

– Rút gươm chém đứt lỗ tai tên đầy tớ vị thượng tế. Đó là Phêrô.

f. Phản ứng của các môn đệ khác thế nào?

– Bỏ chạy.

86. CGS ra toà (26,57-27,26):

a. CGS ra toà 2 lần. Ngài bị xử án bởi ai?

– Một lần bởi hội đồng do thái; lần thứ hai bởi Philatô, tổng trấn Rôma.

b. Giới lãnh đạo do thái tố cáo CGS tội gì trước Philatô?

– Xúi dân nổi loạn, ngăn cản dân nộp thuế và tự xưng là vua.

c. Dân chúng hô hào kết án CGS nhưng xin tha cho ai? Người này làm nghề gì?

– Baraba, một tên cướp.

d. Kết thúc thế nào?

– Philatô theo ý kiến của giới lãnh đạo Do thái: kết án CGS và tha Baraba.

87. Trên đường lên núi sọ (27,32-56):

a. Ai vác thập giá đỡ CGS?

– Simon, người Kyrênê.

b. Ai bị đóng đinh chung với CGS?

– Hai tên trộm cướp.

c. Sau khi CGS tắt thở, viên sĩ quan Rôma cùng các tên lính nói gì?

– Quả thật, ông này là Con Thiên Chúa.

d. Ai xin xác CGS và mai táng Ngài?

– Giuse người Arimathê (cùng với Nicôđêmô).

e. Các thượng tế và biệt phái đề nghị điều gì với Philatô? Tại sao?

– Xin cho người canh mộ CGS.

– Lý do: Sợ các môn đệ đến ăn cắp xác CGS và hô hào Ngài sống lại.

CHƯƠNG 28

88. Ngôi mộ trống (28,1-8):

a. Ai ra mộ từ sáng sớm? Đó là ngày nào?

– Maria Mácđala và bà Maria khác.

– Đó là sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần (sáng Chúa nhật).

b. Sứ thần bảo hai người phụ nữ điều gì?

– CGS đã sống lại và đi đến Galilê trước.

– Trở về báo cho các môn đệ biết.

89. Các thượng tế lừa đảo (28,11-15):

Các thượng tế làm gì khi lính canh báo tin không thấy xác CGS?

– Họ trả tiền cho lính và bảo họ nói rằng các môn đệ CGS đến lấy trộm xác của Ngài.

90. CGS hiện ra ở Galilê (28,16-20):

CGS nói gì với các môn đệ?

– Ra lệnh cho các ông đi rao giảng.

– Hứa sẽ ở với các ông cho đến tận thế.

Hạt giống nảy mầm | Tuần II | Phục sinh

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH

Ga 20.19-31

A. Hạt giống…

Hai lần hiện ra cách nhau 8 ngày này nhằm những mục tiêu sau :

1. Chúa Giêsu nâng đức tin của các môn đệ lên một bậc : từ mức độ thấp là tin dựa vào bằng chứng mà giác quan kiểm nghiệm được (câu 20 “Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn Ngài” ; câu 25, Tôma đòi điều kiện “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Ngài…) lên mức độ cao là tin chỉ vì nghe bởi vì mình đã an tâm về uy tín của người nói cho mình nghe (câu 29 : “Phúc cho những ai không thấy mà tin”).

2. Chúa Giêsu ban bình an cho các môn đệ để rồi các ông lại ban bình an cho người khác qua việc tha tội. Sự bình an này là hoa trái của Thánh Thần, và đặt nền tảng trên việc tin vào Chúa Giêsu phục sinh.

B. … nảy mầm.

1. Một cuộc đối thoại giữa hai người yêu nhau :

– Em có bằng lòng lấy anh không  ?

– Bằng lòng.

– Chúng ta chỉ mới quen nhau mấy tháng. Em chỉ nghe anh nói thôi chứ chưa có dịp “kiểm tra” lý lịch và quá khứ của anh. Sao em tin anh thế  ?

– Vì em yêu anh !

Tình yêu hỗ trợ cho niềm tin. (Góp nhặt) 

2. Có một bà nổi tiếng đạo đức, nhân hậu và luôn bình tâm trước mọi thử thách. Một bà khác ở cách xa ít dặm, nghe nói thì tìm đến, hy vọng học được bí quyết để sống bình tâm và hạnh phúc. Bà hỏi :

– Thưa bà, có phải bà có một đức tin lớn lao ?

– Ồ không, tôi không phải là người có đức tin lớn lao, mà chỉ là người có đức tin bé nhỏ đặt vào một Thiên Chúa lớn lao. (Góp nhặt) 

3. “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”.

“Xoảng…!” Cái bình vỡ. “Hư quá ! Mẹ đã bảo rồi”. Không phải một lần nhưng nhiều lần xảy ra như thế. Mặc dù đã được mẹ báo trước, nhưng tôi vẫn cứ muốn thử xem sao.

Lớn lên, tôi hiểu biết nhiều hơn nhưng cũng đa nghi hơn. Cái gì hơi khác thường là tôi đòi phải có bằng chứng rõ ràng. Với một công thức mới chưa được chứng minh, tôi không tài nào nhớ được. Và đôi khi, trong những giây phút chao lòng, tôi cũng đã hỏi : “Không biết có Chúa thật không ?”.

Cuộc sống càng phát triển, dường như con người chỉ muốn tin vào những cái có thể cân, đo, đong, đếm được mà thôi. 

Nhưng thước đo nào đủ cho chiều cao thập tự. Cán cân nào đủ đo tình yêu của Người.

Lạy Chúa, xin cho con biết vững tin vào tình yêu cứu độ. (Epphata) 

4. “Người buồn nhìn lui, người lo nhìn quanh, còn người tin thì nhìn lên”. (vô danh)

Sống Lời Chúa mỗi ngày | Tuần II | Phục sinh | Năm A   

0

SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN II PHỤC SINH NĂM A

CHÚA NHẬT TÔN VINH LÒNG THƯƠNG XÓT

LỜI CHÚA: Ga 20, 19-31

Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: “Bình an cho các con”. Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: “Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại”. Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Điđymô, không cùng ở với các ông khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: “Chúng tôi đã xem thấy Chúa”. Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: “Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin”.

Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: “Bình an cho các con”. Đoạn Người nói với Tôma: “Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin”. Tôma thưa rằng: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” Chúa Giêsu nói với ông: “Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin!”

Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.

SUY NIỆM:

Hiệp hành là cùng đi với nhau trên một con đường, chia sẻ với nhau mọi hoàn cảnh của cuộc sống, hiệp thông với nhau trong cùng một ý hướng…

Lúc Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ lần thứ nhất, không có sự hiện diện của Tôma. Có thể ông buồn nên muốn tìm đến nơi nào đó cho khuây khỏa, cũng có khi ông đang sắp xếp cho ý định rời xa nhóm 12 vì không còn động lực nào để tồn tại… Tôma đã không hiệp hành với nhóm 12.

Lần thứ hai hiện ra của Chúa Giêsu với các môn đệ, có Tôma. Ông đã quay lại với anh em, với cộng đoàn. Trong sự hiệp hành này ông được tự do bày tỏ ý kiến, và Chúa Giêsu cũng thoải mái để lắng nghe ông, đáp ứng những đòi hỏi của ông vì thấy nó cần thiết.

Sự hiệp hành là cùng đi với nhau dù có buồn chán, thất vọng, dù có những ý kiến trái chiều… nhưng quan trọng là biết lắng nghe nhau, ngồi lại với nhau để bàn bạc về mục đích chính yếu.

Chúa Giêsu Phục Sinh chính là lý tưởng cho sự hiệp hành của Giáo hội.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, những lúc cô đơn, thất vọng, chán chường… xin cho con đừng rời xa gia đình, Giáo hội, những người thân yêu… nhưng biết chia sẻ với nhau để cùng nhau tiến bước.

THỨ HAI

LỜI CHÚA: Mc 16, 15-20

Khi ấy, Chúa Giêsu hiện ra với mười một môn đệ và phán: “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin mừng cho mọi tạo vật. Ai tin và chịu phép rửa, thì sẽ được cứu độ; ai không tin, sẽ bị luận phạt. Và đây là những phép lạ đi theo những người đã tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, nói các thứ tiếng mới lạ, cầm rắn trong tay, và nếu uống phải chất độc, thì cũng không bị hại; họ đặt tay trên những người bệnh, và bệnh nhân sẽ được lành mạnh”. 

Vậy sau khi nói với các môn đệ, Chúa Giêsu lên trời, và ngự bên hữu Thiên Chúa. Phần các ông, các ông đi rao giảng khắp mọi nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và củng cố lời giảng dạy bằng những phép lạ kèm theo. 

SUY NIỆM:

Tin mừng Phục Sinh là sự thúc bách lên đường để loan báo một giá trị quý giá, cao đẹp, vượt lên trên mọi giá trị trần gian này.

Chính vì thế, người sống theo Tin mừng không bao giờ quy hướng về mình để sống ích kỷ, chỉ nghĩ cho riêng mình… nhưng họ luôn luôn quan tâm, hướng về người khác, sống vì người khác theo gương của Đấng Phục Sinh : “Yêu đến cùng”.

Người môn đệ không mệt mỏi, chán nản trước những khó khăn của công cuộc loan báo Tin Mừng, vì họ đã từng sống những giờ phút khổ nạn cùng với Đức Kitô và sau đó họ đã cảm nếm được hạnh phúc cùng với Đấng Phục Sinh.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, xin cho con biết thực hiện sứ mạng mà Chúa Giêsu Phục Sinh đã trao phó là “đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng”. Chúng con không thể đi khắp thế gian theo nghĩa đen, nhưng trong nghĩa bóng, chúng con có thể đi khắp thế gian bằng một tâm hồn rộng mở và luôn thao thức để mở rộng Nước Chúa.

THỨ BA

LỜI CHÚA: Ga 3, 7-15

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô rằng: “Thật, Tôi bảo cho ông biết: Ông đừng ngạc nhiên vì nghe Tôi nói rằng: Các ngươi phải tái sinh bởi trời. Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu: mọi kẻ sinh bởi Thần Linh cũng vậy”.

Nicôđêmô hỏi lại rằng: “Việc ấy xảy ra thế nào được?” Chúa Giêsu đáp: “Ông là bậc thầy trong dân Israel mà ông không biết điều ấy sao? Thật, tôi bảo thật cho ông biết: Điều chúng tôi biết thì chúng tôi nói; điều chúng tôi thấy thì chúng tôi minh chứng. Nhưng các ông lại không nhận lời chứng của chúng tôi. Nếu khi Tôi nói về những sự dưới đất mà các ông không tin, khi Tôi nói những sự trên trời, các ông tin thế nào được? Không ai lên trời được, ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời. Cũng như Môsê treo con rắn nơi hoang địa thế nào, thì Con Người cũng phải bị treo lên như vậy, để những ai tin vào Người, thì không bị tiêu diệt muôn đời”.

SUY NIỆM:

Không phải vì chiều theo sở thích hay giới hạn của con người mà Chúa Giêsu hạ thấp những giá trị Chân-Thiện-Mỹ, đổi lại Chúa Giêsu đã hạ mình xuống, sống với con người, như con người để nâng con người đến những giá trị cao cả ở hơn.

Vì lẽ đó, con người đừng để mình bị ràng buộc bởi những suy luận tự nhiên của trí khôn, hoặc đòi hỏi những hợp lý của khoa học… mà điều quan trọng nhất là tin vào quyền năng của Thiên Chúa, qua Đức Giêsu, Đấng đã sống lại từ cõi chết.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, sức tự nhiên con không thể hiểu những mầu nhiệm cao siêu của Chúa, nhưng con luôn khao khát những giá trị cao cả chứ không phải những giá trị tầm thường. Vì thế xin Chúa ban thêm niềm tin cho con.

THỨ TƯ

LỜI CHÚA: Ga 3, 16-21

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô rằng: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời, vì Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ. Ai tin Người Con ấy, thì không bị luận phạt. Ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa và đây là án luận phạt: là sự sáng đã đến thế gian và người đời đã yêu sự tối tăm hơn sự sáng, vì hành động của họ xấu xa. Thật vậy, ai hành động xấu xa thì ghét sự sáng, và không đến cùng sự sáng, sợ những việc làm của mình bị khiển trách, nhưng ai hành động trong sự thật, thì đến cùng sự sáng, để hành động của họ được sáng tỏ, là họ đã hành động trong Thiên Chúa.

SUY NIỆM:

Chúa Giêsu đã nói lên mục đích của việc nhập thể, là để cứu chứ không để phạt. Ngài mặc khải cho ta biết sự thật về Thiên Chúa Cha “Thiên Chúa đã yêu thế gian”.

Tin vào Chúa Giêsu là biết rằng mình được Thiên Chúa yêu thương và sẽ được Ngài cứu độ. Vì lẽ đó con người đừng chán nản, thất vọng, mặc cảm về những bất toàn của mình, vì biết rằng Thiên Chúa muốn cứu chứ không phải muốn phạt.

Trong niềm tin tưởng, hy vọng, con người sẽ cố vươn lên như sen giữa bùn. Niềm hy vọng đó càng được củng cố vì Chúa Giêsu đã sống lại.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, xin cho con biết hướng về ánh sáng và bước đi theo ánh sáng để đẩy lùi những tối tăm, mê muội ra khỏi cuộc đời con; mà tối tăm, mê muội nguy hiểm nhất chính là không biết mình sẽ đi đâu, về đâu.

THỨ NĂM

LỜI CHÚA: Ga 3, 31-36

Khi ấy, ông Gioan nói để làm chứng về Chúa Giêsu rằng: “Đấng từ trên cao mà đến thì vượt trên hết mọi người. Kẻ bởi đất mà ra, thì thuộc về đất và nói những sự thuộc về đất. Đấng từ trời mà đến thì vượt trên hết mọi người. Điều gì Người thấy và nghe, thì Người làm chứng về điều đó. Nhưng lời chứng của Người không ai chấp nhận. Ai chấp nhận lời chứng của Người, thì quả quyết Thiên Chúa là Đấng chân thật. Đấng được Thiên Chúa sai đến thì nói lời của Thiên Chúa, vì được Chúa ban cho thần linh khôn lường. Cha yêu mến Con, nên đã ban mọi sự trong tay Con. Ai tin vào Con thì có sự sống đời đời. Còn ai không tin vào Con, thì sẽ không được thấy sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên người ấy”.    

SUY NIỆM:

Gioan cho thấy mối tương quan giữa Cha với Con: “Cha yêu mến Con, nên đã ban mọi sự trong tay Con”, và ngược lại “Ai tin vào Con thì có sự sống đời đời”, được trao ban từ Cha.

Mối tương quan này hệ tại ở lòng tin, vì có ai thấy Thiên Chúa là Đấng từ trên cao? Nhưng chúng ta có Đấng từ trên cao vâng lời Cha hạ cố xuống làm người, đó là Đức Giêsu Kitô.

Mặc dù không biết Chúa Cha, nhưng nhìn thấy những gì Chúa Con là Đức Giêsu Kitô thực hiện, chúng ta biết Thiên Chúa là Đấng đáng tôn thờ.

“Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu”. Đức Giêsu đã làm tất cả vì bạn hữu của mình, kể cả mạng sống của Ngài. Do đó tin vào Ngài là xác quyết đúng đắn nhất của con người.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, giữa những chọn lựa căn bản của cuộc sống, của niềm tin, của sự dấn thân, xin cho con luôn tự hào vì mình đã chọn bước đi trên con đường Giêsu.

THỨ SÁU

LỜI CHÚA: Ga 6, 1-15

Khi ấy, Chúa Giêsu đi sang bên kia biển Galilêa, cũng gọi là Tibêria. Có đám đông dân chúng theo Người, vì họ đã thấy những phép lạ Người làm cho những kẻ bệnh tật. Chúa Giêsu lên núi và ngồi đó với các môn đệ. Lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái đã gần tới. Chúa Giêsu ngước mắt lên và thấy đám rất đông dân chúng đến với Người. Người hỏi Philipphê: “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn?” Người hỏi như vậy có ý thử ông, vì chính Người đã biết việc Người sắp làm. Philipphê thưa: “Hai trăm bạc bánh cũng không đủ để mỗi người được một chút”.

Một trong những môn đệ, tên là Anrê, em ông Simon Phêrô, thưa cùng Người rằng: “Ở đây có một bé trai có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người”. Chúa Giêsu nói: “Cứ bảo người ta ngồi xuống”. Nơi đó có nhiều cỏ, người ta ngồi xuống, số đàn ông độ năm ngàn. Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích. Khi họ đã no nê, Người bảo các môn đệ: “Hãy thu lấy những miếng còn lại, kẻo phí đi”. Họ thu lại mười hai thúng đầy bánh vụn do năm chiếc bánh lúa mạch người ta đã ăn mà còn dư.

Thấy phép lạ Chúa Giêsu đã làm, người ta đều nói rằng: “Thật ông này là Đấng Tiên tri phải đến trong thế gian”. Vì Chúa Giêsu biết rằng người ta sẽ đến bắt Người để tôn làm vua, nên Người lại trốn lên núi một mình.

SUY NIỆM:

Chúa Giêsu không bỏ rơi những kẻ tin tưởng, bước đi theo Ngài, đó là sự thật được thể hiện trong trang Tin mừng hôm nay.

Sự hấp dẫn của một con người mang tên Giêsu đã khiến cho hàng ngàn người sẵn sàng từ bỏ mọi sự để bước đi theo Ngài. Đó cũng là sự đánh đổi, vì khi bước đi theo Ngài, họ sẽ mất nhiều thứ và phải trả giá cho nhiều điều, mà điều thực tế nhất chính là miếng ăn, giá trị vật chất.

Tưởng rằng Thầy Giêsu chỉ lo giảng dạy những thứ cao siêu, nhưng không, Ngài còn quan tâm đến những chuyện rất nhỏ, cụ thể là ưu tư căn bản của con người: đói bụng. Đâu ai nói với Ngài, nhưng trái tim mục tử cho Ngài biết họ đang cần điều đó.

Ngài không chỉ quan tâm, nhưng còn dạy cho các môn đệ của Ngài cũng phải biết quan tâm đến người khác khi đặt câu hỏi cho họ: “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn?”.

Từ thao thức đó, các môn đệ đã tìm kiếm khắp nơi, và cuối cùng có được một manh mối hết sức nhỏ bé: “Ở đây có một bé trai có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá.” Và từ khả năng nhỏ nhoi đó, Chúa Giêsu đã làm thành điều vĩ đại: cho hơn năm ngàn người ăn.

Sứ điệp được rút ra là cứ làm hết sức mình, phần còn lại Chúa sẽ lo.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, xin cho con biết cầu nguyện để có được trái tim giống Chúa, luôn thao thức và quan tâm để lo lắng cho người khác. Xin cho con cũng đừng bận tâm quá mức về khả năng của mình, vì thực ra mọi sự là do Chúa, nhưng Chúa cần con cộng tác hết mình.

THỨ BẢY

LỜI CHÚA: Ga 6, 16-21

Chiều đến, các môn đệ Chúa Giêsu xuống bờ biển. Rồi lên thuyền, sang bên kia, trẩy về hướng Capharnaum. Trời đã tối, mà Chúa Giêsu vẫn chưa đến với họ. Bỗng cuồng phong thổi lên, biển động mạnh. Khi chèo đi được chừng hai mươi lăm hay ba mươi dặm, thì họ thấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển, tiến lại gần thuyền, họ hoảng sợ. Nhưng Người nói với họ: “Chính Thầy đây, đừng sợ”. Họ định rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc ấy, thuyền đã đến nơi họ định tới. 

SUY NIỆM:

Các môn đệ gặp khó khăn khi trời tối mà không có Chúa Giêsu. Lúc đó cuồng phong nổi lên làm cho thuyền của họ chao đảo, và họ sợ nguy cơ sẽ lật úp chiếc thuyền.

Chúa Giêsu đi trên mặt biển, dấu chỉ Ngài trấn áp sự dữ, nhờ vậy cuồng phong đã lặng im. Có Chúa Giêsu thì các môn đệ sẽ không còn hoảng sợ, vì thuyền đã cập bến.

Thời đời của mỗi chúng ta cũng sẽ có những lúc đi trong đêm tối khi không có Chúa Giêsu. Nguy hiểm, sợ hãi, lo âu… là chuyện đương nhiên.

Những ai biết để cho Chúa bước vào con thuyền cuộc đời mình, thì họ sẽ được bình an. Đó là điều chắc chắn.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, “khi con hoang mang ngàn nỗi lo toan, xin cho con thêm tình mến yêu Ngài không hề phôi phai”, vì con biết chắc Chúa sẽ dẫn con đến bến bờ bình an.

Hạt giống nảy mầm | Lễ Phục sinh

CHÚA NHẬT PHỤC SINH

(Lễ ban ngày)

Ga 20,1-9

A. Hạt giống…

Bằng cách viết rất súc tích với những ý tưởng sâu sắc chứa đựng trong những chi tiết được chọn lựa rất kỹ, Thánh Gioan muốn mô tả hành trình đức tin của 3 nhân vật trong bài tường thuật này : Maria Mađalêna, Phêrô và “người môn đệ kia”. (tức tông đồ Gioan)

– Khi ấy là “sáng sớm khi trời còn tối” : họ vẫn còn ở trong đêm tối chưa hiểu được mầu nhiệm Chúa Giêsu, nhưng đã là lúc sáng sớm rồi, bình minh sắp tỏa sáng.

– “Chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu” : “địa chỉ” của Chúa Giêsu là một điều được Tin Mừng Gioan lưu ý nhiều lần. Ngay từ đầu quyển Tin Mừng, hai môn đệ đầu tiên đã hỏi “Thưa Thầy, Thầy ở đâu ?” (1,38). Đến phần cuối quyển Tin Mừng, câu hỏi “Thầy ở đâu ?” lại được lặp lại. Các môn đệ Chúa Giêsu luôn muốn biết “địa chỉ” của Ngài.

– Cả 3 nhân vật trong chuyện này đều “chạy” : Mađalêna chạy tìm Simon Phêrô, ông này cùng với Gioan “cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn”. Họ “chạy” để làm chi ? Để tìm đến “địa chỉ” Chúa Giêsu. Đây là cuộc hành trình của đức tin.

– Thiên Chúa đã đặt sẵn những dấu chỉ giúp họ tìm, đó là ngôi mộ trống, những khăn vải liệm còn đó được xếp gọn gàng và những lời tiên báo của Thánh Kinh. Nhưng chỉ một mình “môn đệ kia” đã đọc được ý nghĩa của những dấu chỉ ấy nên “đã thấy và đã tin”. Gioan đã tìm được “địa chỉ” của Chúa Giêsu. Thực ra, nhiều lần Chúa Giêsu đã ám chỉ đến “địa chỉ” này (“Thầy về cùng Cha Thầy” : xem Ga 7,33-34 ; 8,21 13,33) nhưng các môn đệ vẫn chưa hiểu. Hôm nay Gioan đã hiểu : Chúa Giêsu đã sống lại và về cùng Thiên Chúa. 

B. … nảy mầm.

1. Khi mọi sự quanh ta hầu như tối đen và chỉ có một tia sáng hy vọng còn le lói, thì ta làm gì : đứng đó mà than khóc, hay nhanh chân chạy tới nguồn ánh sáng ?

2. Thế giới hôm nay cũng giống như một màn đêm tăm tối : nhiều người không có đức tin, không hy vọng, không yêu thương. Thế nhưng không hẳn tối đen hoàn toàn, vẫn còn một vài tia sáng của đức tin, của hy vọng và của yêu thương. Hãy lạc quan nhận ra những tia sáng đó, hãy chỉ cho mọi người thấy những tia sáng đó và hãy khuyến khích mọi người cùng ta chạy tới.

3. Đoạn Tin Mừng này đã được cải biến thành một vở tuồng do một nhóm học sinh công giáo trình diễn. Vở tuồng như sau : 

– Một học sinh chạy tới hỏi một nhóm bạn học sinh khác : “Chúa Giêsu đâu rồi ? Ai đã đem Chúa Giêsu đi đâu rồi ?”. Mọi người ngơ ngác, sau đó ai nấy đều lần lượt trả lời “Tôi không có ! Tôi không biết !”. Rồi cả nhóm cặm cụi tìm kiếm trong và quanh ngôi mộ của Ngài.

– Từ một góc sân khấu, một học sinh lên tiếng : “Đừng tìm ở đó vô ích. Chúa Giêsu đang ở với mẹ tôi ở nhà tôi đấy. Mỗi khi tôi giúp mẹ một tay thì khuôn mặt rạng rỡ của Chúa Giêsu hiện lên trong nụ cười của mẹ”.

– Từ một góc khác, một học sinh khác cũng lên tiếng : “Chúa Giêsu đang ở trong Nhà thờ đấy. Mỗi khi tôi dự lễ, tôi được nghe Ngài nói trong Tin Mừng và được ấp ủ Ngài trong lòng lúc rước lễ”.

– Từ góc thứ ba, học sinh thứ ba tiếp lời : “Chúa Giêsu ở trong lớp học. Mỗi khi tôi giúp chỉ bài cho một bạn chưa hiểu là tôi gặp Ngài”.

– Phía dưới sân khấu, nhiều khán giả dần dần cũng bị cuốn hút, mỗi người chỉ ra địa chỉ của Chúa Giêsu phục sinh mà họ khám phá được…. (Trích báo Our Family, Lent 1997, Canada).

4. Trước vành móng ngựa, bị can đã tự thú tất cả tội lỗi của mình. Cuộc sống đã không cho phép anh dìm mình mãi trong tội lỗi nữa. Ôi, cũng không thể dửng dưng với cuộc sống còn đầy những ganh ghét và đố kỵ của mình. Chẳng lẽ khi cùng đường bí lối tôi mới dám đối diện với sự thật của chính mình, mới chỗi dậy mà về cùng Cha sao ?

Tôi như người ngủ mê cần chỗi dậy để được thấy vinh quang phục sinh của Người.

Lạy Chúa, xin chiếu tỏa vinh quang Chúa trên chúng con. (Epphata) 

5. “Không phải các sách Tin Mừng giúp hiểu biến cố Phục sinh, mà trái lại biến cố phục sinh giúp hiểu các sách Tin Mừng”. (J.S. Whale)

Sống Lời Chúa mỗi ngày | Bát nhật Phục sinh | Năm A   

0

SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH NĂM A

CHÚA NHẬT

LỜI CHÚA: Tin Mừng Ga 20, 1-9

Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: “Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu”. Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong. Vậy Simon-Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng nhỏ để đó, và khăn liệm che đầu Người trước đây, khăn này không để lẫn với dây băng, nhưng cuộn lại để riêng một chỗ. Bấy giờ môn đệ kia mới vào, dù ông đã tới mồ trước. Ông thấy và ông tin, vì chưng các ông còn chưa hiểu rằng, theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết.  

SUY NIỆM:

Maria Mađalêna, với cái nhìn và theo cảm xúc của con người thì bà chỉ nhìn thấy những sự kiện theo kiểu của con người: Không thấy xác chết thì nghĩ là người ta ăn cắp xác.

Gioan, bằng cái trực giác của đức tin và tình yêu  dành cho Thầy Giêsu: Ông thấy và ông tin.

Biến cố Phục Sinh của Thầy Giêsu chỉ có thể nhìn dưới cái nhìn đức tin. Điều đó đòi hỏi người môn đệ phải có lòng yêu mến Thầy Giêsu để tiếp cận với Lời Chúa, vì nơi đó những gì tiên báo về Đức Giêsu đều được thực hiện.

Người môn đệ cũng phải trau dồi tình mến để sống trọn vẹn sứ mạng với Thầy Giêsu như Gioan: bước theo Chúa sát gót trong mọi hành trình của cuộc đời.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin cho con biết tìm đến Chúa trong Thánh Kinh, và biết sống với Chúa trong mọi biến cố cuộc đời, để con tin Chúa đã sống lại, và con sẽ được cùng sống lại với Chúa.

THỨ HAI

LỜI CHÚA: Tin Mừng Mt 28, 8-15

Khi ấy, các bà vội ra khỏi mồ vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Chúa. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: “Chào các bà”. Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: “Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó họ sẽ gặp Ta”.

Đang khi các bà lên đường, thì mấy người lính canh vào thành báo tin cho các thượng tế biết tất cả những gì đã xảy ra. Các thượng tế liền họp với các kỳ lão, và sau khi đã bàn định, họ cho lính một số tiền lớn và bảo rằng: “Các anh hãy nói rằng: Ban đêm khi chúng tôi đang ngủ, thì môn đệ ông đến lấy trộm xác ông. Nếu việc này đến tai tổng trấn, chúng tôi sẽ thương lượng với ông, không để các anh phải phiền hà đâu”. Bọn lính canh nhận tiền và đã làm y như họ căn dặn chúng. Bởi thế, lời đó được phao truyền nơi người Do-thái cho đến ngày nay.   

SUY NIỆM:

Tin Mừng Phục sinh và sự dối trá. Chúa sống lại đó là Tin Mừng lớn nhất cho nhân loại, vì họ cũng sẽ được sống lại với Ngài.

Tuy nhiên, thế lực của ma quỷ luôn tìm cách ngăn cản Tin Mừng Phục Sinh, vì nếu con người tin vào điều đó, họ sẽ được cứu độ, đó là điều tệ hại nhất đối với ma quỷ.

Môn đệ Chúa Giêsu là những người đã đón nhận Tin Mừng Phục Sinh, và sứ mạng của chúng ta là phải loan báo Tin Mừng đó giống như các người phụ nữ trong đoạn Tin Mừng hôm nay.

Môn đệ Chúa Giêsu phải tránh mọi hình thức dối trá, vì đó chính là tay sai của ma quỷ. Đôi khi sự dối trá đó xảy ra nơi chính bản thân mình, vì mình muốn sống trong bóng tối để thỏa mãn những đam mê, hoặc để làm những sự xấu.

Muốn đón nhận Tin Mừng Phục Sinh, người môn đệ vào bước ra ngoài để được ánh sáng Phục Sinh soi dọi.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết loan báo Tin Mừng Phục Sinh bằng chính kinh nghiệm gặp gỡ Đấng Phục Sinh của chúng con.

THỨ BA

LỜI CHÚA: Tin Mừng Ga 20, 11-18

Khi ấy, bà Maria đang còn đứng gần mồ Chúa mà than khóc. Nhìn vào trong mồ, bà thấy hai thiên thần mặc áo trắng đang ngồi nơi đã đặt xác Chúa Giêsu, một vị ngồi phía đàng đầu, một vị ngồi phía đàng chân. Hai vị hỏi: “Tại sao bà khóc?” Bà trả lời: “Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi và tôi không biết người ta đã để Người ở đâu?” Vừa nói xong, bà quay mặt lại, thì thấy Chúa Giêsu đã đứng đó, nhưng bà chưa biết là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hỏi: “Bà kia, sao mà khóc, bà tìm ai?” Tưởng là người giữ vườn, Maria thưa: “Thưa ông, nếu ông đã mang xác Người đi, thì xin cho tôi biết ông đã đặt Người ở đâu, để tôi đến lấy xác Người”. Chúa Giêsu gọi: “Maria”. Quay mặt lại, bà thưa Người: “Rabboni!” (nghĩa là “Lạy Thầy!”). Chúa Giêsu bảo bà: “Đừng động đến Ta, vì Ta chưa về cùng Cha Ta. Nhưng hãy đi báo tin cho các anh em Ta hay và bảo họ rằng: Ta về cùng Cha Ta, cũng là Cha các con; về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là Thiên Chúa các con”. 

Maria Mađalêna đi báo tin cho các môn đệ rằng: “Tôi đã trông thấy Chúa và Chúa đã phán với tôi những điều ấy”.  

SUY NIỆM:

Đoạn Tin Mừng hôm nay thuật lại việc bà Maria chạy ra mồ lần thứ ba. Vì yếu ớt, chậm chạp lại thức suốt đêm nên bà chạy chậm hơn hai môn đệ kia. Hai ông đến trước nên đã chứng kiến tất cả những sự việc đã xảy ra. Còn Macđala thì “Đứng ở ngoài, gần bên mộ mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ” (Ga 20,11). Tuy nhiên Chúa lại không hiện ra cho hai môn đệ đến trước, mà lại hiện ra cho người phụ nữ chân yếu tay mềm, nhưng con tim mạnh mẽ này. Điều đó cho chúng ta thấy: “Tình yêu đáp lại tình yêu”.

Nhưng Maria không nhận ra người đang nói chuyện với mình là Đấng Phục Sinh, vì bà còn đang bị đắm chìm trong tình cảm riêng tư. Con tim bà đang tức tưởi. Tình cảm của bà đang nghẹn ngào đến mức có thể gục ngã. Chính vì vậy mà không nhận ra Chúa. Chỉ đến khi Chúa gọi đích danh bà: “Maria!” bà mới nhận ra người này là Thầy mình. Chính tiếng gọi của Chúa đã kéo bà ra khỏi cơn mê của tình cảm. Chính tiếng gọi thân quen này đã đem đến cho bà một động lực sống khi bà còn là người tội lỗi.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, qua đoạn Tin Mừng hôm nay con xin bái phục chị Maria và hiểu rõ hơn về câu nói của  Chúa: “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều” (Lc 7, 47). Và cũng chính nhờ chị yêu mến nhiều nên chị đã được tha, dù tội của chị thật tày trời. Bằng chứng của tình yêu mến đó đã được thể hiện bằng những hành động của chị trong biến cố Tử Nạn và Phục Sinh.

THỨ TƯ

LỜI CHÚA: Tin Mừng Lc 24, 13-35

Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra. Đang khi họ nói truyện và trao đổi ý kiến với nhau, thì chính Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ, nhưng mắt họ bị che phủ nên không nhận ra Người. Người hỏi: “Các ông có truyện gì vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy?” Một người tên là Clêophas trả lời: “Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở Giêrusalem mà không hay biết những sự việc vừa xảy ra trong thành mấy ngày nay”. Chúa hỏi: “Việc gì thế?” Các ông thưa: “Sự việc liên can đến ông Giêsu quê thành Nadarét. Người là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ, trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng. Thế mà các trưởng tế và thủ lãnh của chúng ta đã bắt nộp Người để xử tử và đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel. Các việc ấy đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả thật đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã nói; còn Người thì họ không gặp”.

Bấy giờ Người bảo họ: “Ôi kẻ khờ dại, chậm tin các điều tiên tri đã nói! Chớ thì Đấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang sao?” Đoạn Người bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người. Khi gần đến làng hai ông định tới, Người giả vờ muốn đi xa hơn nữa. Nhưng hai môn đệ nài ép Người rằng: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều, và ngày sắp tàn”. Người liền vào với các ông.

Đang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Đoạn Người biến mất. Họ bảo nhau: “Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong ta khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?” Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. Các vị đó bảo hai ông: “Thật Chúa đã sống lại, và đã hiện ra với Simon”. Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào.  

SUY NIỆM:

Hai môn đệ trên đường Emmau hôm nay đã chán nản, bỏ cuộc, không còn nhìn thấy Thầy Giêsu trong hành trình cuộc đời của mình nữa. Chính vì vậy mà: “Có hai người trong nhóm môn đệ đi đên một làng kia tên là Emmau, cách Giêrusalem chừng mười một cây số” (Lc 24, 13). Họ đã bỏ Giêrusalem.

Tuy nhiên khi Đức Giêsu đến đàm đạo với họ: “giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24, 27), thì: “khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng lên đó sao?” (Lc 24, 32). Đặc biệt là: “Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra cho họ. Mắt họ liền mở ra và nhận ra Người” (Lc 24, 30-31).

Mặc dù Đức Kitô vẫn đồng hành với họ trong cuộc đời, nhưng mắt họ vẫn còn bị che khuất. Chỉ nhờ Lời Chúa và Bí Tích Thánh Thể, họ mới có thể nhận ra Chúa mà thôi. Ngay khi nhận ra Chúa, “họ đứng dậy quay trở lại Giêrusalem, gặp nhóm mười một và các bạn hữu đang tụ tập tại đó” (Lc 24, 33). Nhờ Lời Chúa và Bí Tích Thánh Thể mà hai ông đã quay trở lại với Giáo Hội, với anh em của mình.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, con biết giá trị của Lời Chúa và Bí Tích Thánh Thể, nhưng thực sự con chưa yêu mến đủ. Con chưa chú tâm để đọc, học hỏi, nhất là suy niệm. Có nhiều ngày vì mệt mỏi mà con bỏ đọc lời Chúa. Có nhiều hôm vì bận rộn mà con bỏ suy niệm lời Chúa… Như vậy thì làm sao lời Chúa là kim chỉ nam chỉ dẫn cho cuộc đời con được? Xin tha thứ và củng cố đức tin cho con.

THỨ NĂM

LỜI CHÚA: Tin Mừng Lc 24, 35-48

Khi ấy, hai môn đệ thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào. Mọi người còn đứng bàn chuyện thì Chúa Giêsu hiện ra đứng giữa họ và phán: “Bình an cho các con! Này Thầy đây, đừng sợ”. Nhưng mọi người bối rối tưởng mình thấy ma. Chúa lại phán: “Sao các con bối rối và lòng các con lo nghĩ như vậy? Hãy xem tay chân Thầy: chính Thầy đây! Hãy sờ mà xem: ma đâu có xương thịt như các con thấy Thầy có đây”. Nói xong, Người đưa tay chân cho họ xem. Thấy họ còn chưa tin, và vì vui mừng mà bỡ ngỡ, Chúa hỏi: “Ở đây các con có gì ăn không?” Họ dâng cho Người một mẩu cá nướng và một tảng mật ong. Người ăn trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ. Đoạn Người phán: “Đúng như lời Thầy đã nói với các con khi Thầy còn ở với các con, là: cần phải ứng nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên tri và thánh vịnh”. Rồi Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh Thánh.

Người lại nói: “Có lời chép rằng: Đấng Kitô sẽ phải chịu thương khó và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại. Rồi phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy”.  

SUY NIỆM:

Chỉ có Đấng Phục Sinh mới củng cố niềm tin cho các môn đệ. Chỉ nghe những người phụ nữ, nghe hai môn đệ kể, chỉ thấy ngôi mộ trống… thì làm sao các ông có thể tin Thầy mình sống lại được. Chỉ khi Đấng Phục Sinh hiện diện, ban bình an, chất vấn, chứng mình… thì lòng tin của các ông mới được củng cố: “Sao lại hoảng hốt? sao lòng anh em còn ngờ vực? nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà!”(Lc 24, 38-39).

Chỉ khi Thầy trò thân tình với nhau: “Người hỏi: ở đây anh em có gì ăn không? Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông” (Lc 24, 41-43), Đấng Phục Sinh mới trao cho các ông sứ mạng của Ngài. Bởi vì chỉ trong tình thân mới có thể san sẻ điều mình tâm huyết nhất.

Hơn thế nữa, trước khi trao sứ mạng, Đấng Phục Sinh đã: “Mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh” (Lc24, 45), vì nền tảng Kinh Thánh đã mặc khải về sứ mạng của Ngài rất rõ: “Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc4, 18-19).

CẦU NGUYỆN:

Lạy Đấng Phục Sinh, ngày hôm nay Chúa vẫn gần gũi với chúng con trong Bí Tích Thánh Thể,   qua thánh lễ hàng ngày, nơi nhà tạm, trong nhà chầu… Ngài vẫn ở giữa chúng con để ban bình an, để củng cố niềm tin và nhất là trao cho chúng con sứ mạng: “Sám hối để được ơn tha tội”. Xin cho chúng con biết tìm đến với Chúa.

THỨ SÁU

LỜI CHÚA: Tin Mừng Ga 21, 1-14

Khi ấy, lúc các môn đệ đang ở bờ biển Tibêria, Chúa Giêsu lại hiện đến. Công việc đã xảy ra như sau: Simon Phêrô, Tôma cũng gọi là Điđymô, Nathanael quê tại Cana xứ Galilêa, các con ông Giêbêđê, và hai môn đệ nữa đang ở với nhau. Simon Phêrô bảo: “Tôi đi đánh cá đây”. Các ông kia nói rằng: “Chúng tôi cùng đi với ông”. Mọi người ra đi xuống thuyền. Nhưng đêm ấy các ông không bắt được con cá nào. Lúc rạng đông, Chúa Giêsu hiện đến trên bờ biển, nhưng các môn đệ không biết là Chúa Giêsu. Người liền hỏi: “Này các con, có gì ăn không?” Họ đồng thanh đáp: “Thưa không”. Chúa Giêsu bảo: “Hãy thả lưới bên hữu thuyền thì sẽ được”. Các ông liền thả lưới và hầu không kéo nổi lưới lên, vì đầy cá. Người môn đệ Chúa Giêsu yêu, liền nói với Phêrô: “Chính Chúa đó”. Simon Phêrô nghe nói là Chúa, liền khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào và kéo lưới đầy cá theo, vì không còn xa đất bao nhiêu, chỉ độ hai trăm thước tay.

Khi các ông lên bờ, thấy có sẵn lửa than, trên để cá và bánh. Chúa Giêsu bảo: “Các con hãy mang cá mới bắt được lại đây”. Simon Phêrô xuống thuyền kéo lưới lên bờ. Lưới đầy toàn cá lớn; tất cả được một trăm năm mươi ba con. Dầu cá nhiều đến thế, nhưng lưới không rách.

Chúa Giêsu bảo rằng: “Các con hãy lại ăn”. Không ai trong đám ngồi ăn dám hỏi: “Ông là ai?” Vì mọi người đã biết là Chúa. Chúa Giêsu lại gần, lấy bánh trao cho các môn đệ; Người cũng cho cá như thế. Đây là lần thứ ba, Chúa Giêsu đã hiện ra với môn đệ khi Người từ cõi chết sống lại.      

SUY NIỆM:

Khi niềm tin bị hụt hẫng, khi lý tưởng bị lu mờ, khi cuộc đời như vô nghĩa… chỉ cần một thứ gì để bám víu vào, thì người ta sẵn sàng nắm chặc lấy nó. Đó là tâm trạng của các môn đệ khi nghe ông Phêrô nói lên nỗi chán chường của mình: “Tôi đi đánh cá đây!” (Ga 21, 3a). Họ cảm thấy việc cấp thiết ngay bây giờ là thoát khỏi hoàn cảnh hiện tại của mình, không biết đó là việc gì, chỉ cần đừng ở đây nữa. Vì vậy họ đã đồng thanh hưởng ứng ngay: “Chúng tôi cùng đi với anh” (Ga 21, 3b)

Chính trong hoàn cảnh đó, Chúa Giêsu đã hiện diện, càng đặc biệt hơn khi hiện trong chính môi trường mới mà các ông tìm đến để thay thế môi trường cũ: “Đức Giêsu đứng trên bãi biển” (Ga21, 4), vì các môn đệ của Ngài đã bỏ căn phòng buồn chán mà đi đánh cá.

Trong khi các môn đệ không nhận biết bóng người lang thang trên bãi biển kia là ai, thì Gioan, “người môn đệ được Đức Giêsu thương mến nói với ông Phêrô: “Chúa đó!” (Ga 21, 7). Đơn giản bởi vì Gioan yêu mến Chúa, ông luôn nhớ từng cử chỉ, lời nói, ánh mắt của Chúa…

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, có những lúc niềm tin của con bị thử thách. Những lúc đó con cảm thấy Chúa xa vời, Chúa không ở bên cạnh con, những công việc con làm trở nên vô nghĩa… Con muốn bỏ tất cả để tìm kiếm một cái gì mới mẻ. Có thể con sẽ tin tưởng vào một thế lực khác. Có thể con sẽ tìm kiếm những niềm vui khác. Có thể con sẽ bỏ hết, không làm gì hết để nghỉ ngơi cho khỏe… Nhưng trong chính lúc đó, Chúa vẫn hiện diện ở bên cạnh con. Hình ảnh Chúa ở bãi biển chứ không phải trên chiếc thuyền với các môn đệ cho con hiểu Chúa thông cảm với những chán nản, thất vọng của con, nhưng Chúa không thể xuống thuyền cùng con được vì Chúa không muốn con làm như thế. Chúa chỉ đứng ở bãi biển, lang thang theo con để kêu con hãy cặp bến, hãy vào bờ, hãy bước xuống với Ngài.

THỨ BẢY

LỜI CHÚA: Tin Mừng Mc 16, 9-15

Khi Chúa Giêsu sống lại, sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, thì trước hết Người hiện ra với Maria Mađalêna, kẻ đã được Chúa đuổi bảy quỷ. Bà đi báo tin cho những kẻ đã từng ở với Người và nay đang buồn thảm khóc lóc. Họ nghe bà nói Chúa sống lại và bà đã thấy Người, nhưng họ không tin. Sau đó, Chúa lại hiện ra dưới hình thức khác với hai môn đệ đang trên đường về miền quê. Hai ông trở về báo tin cho anh em, nhưng họ cũng không tin các ông ấy. Sau hết, Chúa hiện ra với mười một tông đồ lúc đang ngồi ăn. Chúa khiển trách các ông đã cứng lòng, vì các ông không tin những kẻ đã thấy Người sống lại. Rồi Người phán: “Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho muôn loài”.     

SUY NIỆM:

Bài Tin Mừng hôm nay như tóm kết lại một tuần lễ hoạt động của Đấng Phục Sinh. Maccô đã chịu khó liệt kê lại tất cả những lần hiện ra của Chúa Giêsu: với mấy người phụ nữ, với hai môn đệ trên đường Emmau, và sau cùng với chính nhóm mười một trên bãi biển. Điểm đặc biệt là sau mỗi lần liệt kê, thánh Maccô đều kết luận: “Các ông vẫn không tin” (Mc 16, 11); “nhưng các ông ấy cũng không tin hai người này” (Mc 16, 13). Đặc biệt lần thứ ba với chính các môn đệ, “Người khiển trách các ông không tin, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người” (Mc 16, 14b).

Cuối cùng Chúa Giêsu sai các ông đi và nói: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc16, 15). Nghĩ cũng mắc cười, Chúa vừa “khiển trách các ông không chịu tin những kẻ đã thấy Người”, thì lại sai “những kẻ không chịu tin” đó đi nói cho người khác. Nó là cấp số nhân của tình trạng “không chịu tin”. Nếu theo tình hình này thì sẽ nhân rộng ra một đám dân không chịu tin.

Tuy nhiên chắc chắn lúc này các môn đệ đã xác tín niềm tin của mình, đang cúi đầu để nghe Đấng Phục Sinh sửa dạy. Vì vậy mệnh lệnh này xem như là cách để các ông “Chuộc lại lỗi lầm”. Các ông hứa trong bụng là “Thầy xem chúng con làm đây!” Quả thật với sự xác tín, với ước muốn chuộc lại lỗi lầm, với lới hứa với bản thân và nhất là trước một sự thật vô cùng lớn lao là Đức Giêsu đã Phục Sinh để đem đến ơn cứu độ cho nhân loại, các môn đệ đã làm hết sức mình để “Loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Các ông đã sẵn sàng hy sinh để cho người khác tin những điều mình nói là sự thật. Từ những con người “không chịu tin”, sau khi “chịu tin” thì đã “sống niềm tin” và “loan báo niềm tin” cách hiệu quả.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, xin cho chúng con tích cực loan báo Tin Mừng Phục Sinh bằng chính đời sống chúng con.

Hạt giống nảy mầm | Lễ Lá

CHÚA NHẬT LỄ LÁ

Mt 21,1-11

A. Hạt giống…

Bài Tin Mừng tường thuật việc Chúa Giêsu chuẩn bị vào thành Giêrusalem và cuộc đón rước Ngài vào thành :

– Về việc chuẩn bị : chính Chúa Giêsu chỉ dẫn mọi chi tiết cho các môn đệ, bởi vì cuộc vào thành có ý nghĩa rất quan trọng nên Ngài phải đích thân thu xếp. Việc chuẩn bị được thực hiện trong vòng bí mật, vì khi đó bầu khí rất nguy hiểm, những lãnh tụ Do thái đang tìm bắt Ngài.

– Chúa Giêsu cỡi lừa tiến vào thành để cho thấy Ngài chính là Vua Messia. Nhưng Ngài không cỡi ngựa mà cỡi lừa để cho thấy Ngài không phải là một vị vua chiến tranh nhưng là một vị vua hòa bình.

B. … nảy mầm.

1. Tất cả mọi việc làm của Đức Giêsu đều hướng về việc tiến vào Giêrusalem hôm nay. Vào thành này, Ngài sẽ bị bắt, bị hành hạ và giết chết. Nhưng bởi vì đó là sứ mạng của Ngài nên Ngài không ngại và còn vui mừng khi việc này sắp được thực hiện. Ngài quan tâm đến nỗi đích thân thu xếp từng chi tiết nhỏ.

Ước gì chúng ta cũng không bao giờ quên sứ mạng của mình và làm mọi việc để cho sứ mạng ấy được hoàn thành, cho dù hoàn thành bằng cái giá là những đau thương khổ sở.

2. Đức Giêsu là vua, nhưng không giống những ông vua trần thế thích chiến tranh, ưa thống trị, mà là một vị vua khiêm tốn và hiền lành cỡi trên lưng một con lừa nhỏ.

Đức Giêsu là vua đang “cai trị” chúng ta, không bằng uy quyền và kỷ luật sắt, mà bằng tình thương. Lẽ ra chúng ta phải vì thế mà kính mến Ngài, nhưng chúng ta lại vì thế mà coi thường Ngài !

3. Bắt đầu Tuần Thánh, Giáo Hội trình bày Đức Giêsu là vua. Chúng ta phải luôn nhớ điều căn bản này khi theo dõi những diễn biến trong cuộc chịu nạn của Ngài : dù Ngài bị bắt, bị đánh đòn, bị nhục mạ và bị giết chết, Ngài vẫn là vua và mãi mãi là vua. Bởi vì một vị vua đích thực phải là người yêu thương chăm lo cho dân mình, cho dù phải hy sinh bất cứ điều gì.

4. Một ông vua nọ muốn nhìn thấy Chúa. Ông đe dọa tất cả các linh mục và các nhà thông thái là nếu không chỉ cho ông thấy Chúa, họ sẽ bị trừng phạt nặng nề.

Trong lúc các vị suy nghĩ tìm cách, thì một người chăn cừu dẫn vua đến bãi cỏ, chỉ lên mặt trời và nói : “Hãy chăm chú nhìn”. Vua cố gắng cách cực khổ rồi gục đầu xuống và hét lên : “Ngươi muốn cho Ta mù phải không ?” 

– Tâu bệ hạ, mặt trời chỉ là một tạo vật của Chúa, một hình ảnh mờ nhạt của Người. Nếu ngài không thể nhìn vào mặt trời, làm sao ngài có thể nhìn vào Chúa. (Góp nhặt)

Lời Chúa mỗi ngày | Tuần Thánh | Năm A   

0

SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN THÁNH NĂM A

CHÚA NHẬT LỄ LÁ

LỜI CHÚA: Tin Mừng Mt 21, 1-11

Khi các ngài đến gần Giêrusalem, vào địa hạt Bếtphaghê, giáp núi Cây Dầu, Chúa Giêsu sai hai môn đệ đi và bảo rằng: “Các con hãy đến làng trước mặt kia, sẽ gặp ngay một con lừa mẹ cột ở đó với con lừa con. Các con hãy mở dây, dẫn về đây cho Thầy; và nếu có ai bảo các con điều gì, thì hãy nói: Chúa cần đến chúng, và Ngài sẽ gởi trả lại ngay”. Mọi việc này xảy ra để ứng nghiệm lời tiên tri đã phán:

“Các ngươi hãy bảo thiếu nữ Sion rằng: Kìa vua ngươi nhân ái đến cùng ngươi, ngồi trên lừa mẹ và lừa con, là con của con vật chở đồ”.

Các môn đệ ra đi và làm theo lời Chúa Giêsu dạy bảo. Hai môn đệ dẫn lừa mẹ và lừa con về, trải áo lên mình chúng và đặt Chúa ngồi lên trên. Phần đông dân chúng trải áo xuống đường, kẻ khác thì chặt nhành cây trải lối đi. Dân chúng kẻ thì đi trước, người theo sau tung hô rằng: “Hoan hô con vua Đavit! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Hoan hô trên các tầng trời!”

Khi Ngài vào thành Giêrusalem, thì cả thành phố náo động và nói rằng: “Người đó là ai vậy?” Dân chúng trả lời rằng: “Người ấy là Tiên tri Giêsu, xuất thân từ Nadarét, xứ Galilêa”.

SUY NIỆM:

Lên Giêrusalem là thuật ngữ nói về việc Chúa Giêsu bước vào cuộc khổ nạn, và trong nghĩa nào đó, các môn đệ cũng đi chung con đường lên Giêrusalem với Thầy Giêsu.

Theo tường thuật của Matthêu, Chúa Giêsu là vị thủ lãnh theo khuôn mẫu của quân đội Rôma, vì Ngài luôn đi trước. Việc đi trước cho thấy Ngài hoàn toàn hiểu biết và chủ động trong chương trình của Chúa Cha.

Hình ảnh tung hô của dân chúng hôm nay là báo trước vinh quang của Đức Giêsu khi chấp nhận đi vào cuộc khổ nạn, chính là con đường thánh ý của Chúa Cha.

Khởi đầu Tuần Thánh, Giáo hội mời gọi Kitô hữu bước đi theo Đức Kitô trên con đường khổ nạn để được vinh quang phục sinh cùng với Ngài.

CẦU NGUYỆN :

Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con tham dự đầy đủ, trọn vẹn những nghi thức trong Tuần Thánh, như dấu chỉ cùng bước đi với Đức Giêsu trên con đường thập giá để được chia sẻ vinh quang Phục Sinh với Người.

THỨ HAI TUẦN THÁNH

LỜI CHÚA: Tin Mừng Ga 12, 1-11

“Sáu ngày trước Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu đến làng Bêtania, nơi Ladarô đã chết được Người cho sống lại. Tại đây người ta dọn bữa cho Người ăn. Martha hầu bàn. Còn Ladarô cũng là một trong những kẻ đồng bàn với Người. Bấy giờ Maria lấy một cân dầu thơm, dầu cam tùng hảo hạng, và xức chân Chúa Giêsu, rồi lấy tóc mình mà lau. Hương thơm toả đầy nhà. Một môn đệ là Giuđa Iscariô, kẻ sẽ phản nộp Người, liền nói: “Sao không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đồng mà cho người nghèo khó?” Hắn nói thế không phải vì lo lắng cho người nghèo khó đâu, mà vì hắn là tên trộm cắp, lại được giữ túi tiền, nên bớt xén các khoản tiền người ta bỏ vào đó. Vậy Chúa Giêsu nói: “Hãy để mặc cô ấy làm công việc chỉ về ngày táng xác Ta. Vì các ngươi sẽ có người nghèo luôn bên cạnh các ngươi, còn Ta, các ngươi sẽ không gặp Ta mãi đâu”.

Có đám đông người Do-thái biết Người đang ở đó, nên tuôn đến, không những vì Chúa Giêsu, mà còn để thấy Ladarô, kẻ đã chết được Người cho sống lại. Thế là các Thượng tế quyết định giết luôn cả Ladarô, vì tại ông mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin theo Chúa Giêsu.”

SUY NIỆM:

Phụng vụ lời Chúa của ngày đầu Tuần Thánh cho chúng ta thấy một sự thinh lặng nội tâm để nhường chỗ cho tình yêu lên tiếng, nhưng không phải ồn ào, mà chỉ là những lời thì thầm của con tim.

Bài Tin Mừng làm rõ nét hơn tình yêu thầm lặng đó qua hình ảnh của cô Maria. Cô đã âm thầm quỳ dưới chân Chúa, “Lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá mà xức chân Đức Giêsu, rồi lấy tóc mình mà lau” (Ga 12, 3). Không vồn vã, không nức nở nghẹn ngào, không muốn ghì chặt người mình yêu… mà chỉ muốn dành cho người mình yêu những gì là quan trọng nhất.

Có những người không chấp nhận thái độ của Maria vì họ tiếc của. Họ đánh giá “một cân dầu thơm hảo hạng” này nhiều tiền lắm, làm vậy là phí. Họ xem tiền bạc trọng hơn tình nghĩa.

Có những người không thấy được tình yêu của cô Maria dành cho Chúa Giêsu vì họ còn bận tâm những chuyện khác. Họ lo dò xét Ngài. Họ lo tìm cách làm hại Ngài. Họ muốn giết Ngài. Tệ hại hơn, vì muốn giết Ngài nên giết cả những người liên quan đến Ngài: “Các thượng tế quyết định giết cả anh Lazarô nữa, vì tại anh mà nhiều người Do thái đã bỏ họ mà tin vào Đức Giêsu” (Ga 12, 11).

Đây là những ngày cuối cùng của Chúa Giêsu trên thế gian này, những ngày cuối cùng bên cạnh những người Ngài thương mến. Vì vậy tình cảm của Ngài rất dạt dào. Nhưng chúng ta không hề thấy nó dâng trào, mà chỉ thấy nó thầm lặng trong thương mến.

Từ đó tôi nhìn lại tình yêu của tôi dành cho Chúa. Nhiều khi tôi hăng hái tham gia mọi hoạt động trong họ đạo, hội đoàn nào cũng tham gia, nhóm nào cũng sinh hoạt… tham gia, sinh hoạt riết muốn mệt mỏi, không còn hơi để thở… Nhưng cũng có những lúc tôi ù lì, thụ động, không tham gia, sinh hoạt gì cả, mà ngồi nhìn xem thử người ta làm thế nào? Một cái nhìn dò xét, một cái nhìn soi mói… Hoặc có có những lúc chúng ta chán nản người lãnh đạo nên không muốn làm gì hết, kể cả việc giữ đạo một cách cơ bản như đi lễ, đọc kinh, cầu nguyện…

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, xin cho con đừng ồn ào, náo động, mà tĩnh lặng trong sâu thẳm cõi lòng để dâng cho Chúa tất cả tình yêu của con. Chính tình yêu sâu lắng, trầm lặng đó sẽ hướng dẫn đời sống đạo của con, để con biết phải làm gì cho vừa lòng Chúa và vừa sức với con. Điều quan trọng là dành cho Chúa tất cả tình yêu và khả năng của con.

THỨ BA TUẦN THÁNH

LỜI CHÚA: Tin Mừng Mt 21, 1-11

 “Khi ấy, (Chúa Giêsu đang ngồi ăn với các môn đệ), tâm hồn Người bị xao xuyến, nên Người tuyên bố: “Thật, Thầy nói thật cho các con biết, một người trong các con sẽ nộp Thầy”. Các môn đệ nhìn nhau phân vân không biết Người nói về ai. Có một môn đệ được Chúa Giêsu yêu quý, đang ở bàn ăn gần lòng Chúa Giêsu. Vậy Phêrô làm hiệu cho môn đệ ấy và nói: “Hỏi xem Thầy nói về ai đó”. Môn đệ ấy nghiêng mình sát ngực Chúa Giêsu và hỏi Người: “Thưa Thầy, ai vậy?” Chúa Giêsu trả lời: “Thầy chấm miếng bánh trao cho ai là người đó”. Và Người chấm một miếng bánh trao cho Giuđa, con Simon Iscariô. Ăn miếng bánh rồi, Satan nhập vào hắn. Chúa Giêsu nói với hắn: “Con tính làm gì thì làm mau đi”. Nhưng những người đang ngồi ăn không một ai hiểu được vì sao Người lại nói với hắn như vậy. Có nhiều người tưởng tại Giuđa giữ túi tiền, nên Chúa Giêsu bảo hắn: Hãy mua những gì chúng ta cần dùng trong dịp lễ, hoặc Người bảo hắn bố thí cho người nghèo. Vậy sau khi nhận miếng bánh đó, Giuđa liền đi ra. Bấy giờ là đêm tối. Khi Giuđa đi rồi, Chúa Giêsu phán: “Bây giờ Con Người được vinh hiển, và Thiên Chúa đã được vinh hiển nơi Người. Nếu Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người, thì Thiên Chúa lại cho Người được vinh hiển nơi chính Mình, và Thiên Chúa sẽ cho Người được vinh hiển! Các con yêu quý, Thầy chỉ còn ở với các con một ít nữa. Các con sẽ tìm Thầy, và như Thầy đã nói với người Do-thái: “Nơi Ta đi, các ngươi không thể đến được”, nay Thầy cũng nói với các con như vậy”.

Simon Phêrô hỏi Người: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu?” Chúa Giêsu trả lời: “Nơi Thầy đi, nay con chưa thể theo tới đó được, nhưng sau này con sẽ theo Thầy”.

Phêrô thưa lại: “Tại sao con lại không theo Thầy ngay bây giờ được! Con sẽ liều mạng sống con vì Thầy”. Chúa Giêsu nói: “Con liều mạng sống vì Thầy ư? Thật, Thầy nói thật cho con biết: trước khi gà gáy, con đã chối Thầy ba lần”.

SUY NIỆM:

Qua đoạn Tin mừng hôm nay tôi nhớ lại lời của Tổng Giám Mục Dom Helter Camara: “Không phải chỉ có một định nghĩa về thánh thiện mà đã có cả hàng chục hàng trăm . Thế nhưng có một định nghĩa mà tôi thích nhất: sống thánh thiện là phải chỗi dậy ngay khi bị ngã, chỗi dậy với lòng khiêm nhường và vui mừng. Không phải có ý nói là không bao giờ được sa ngã theo đàng tội lỗi, mà muốn nói lên ý nghĩa là ta có thể nói: ‘Vâng lạy Chúa con đã sa ngã một ngàn lần, và nhờ ơn Chúa giúp con đã chỗi dậy một ngàn lẻ một lần’. Tất cả ý nghĩa là như vậy. Tôi thích suy nghĩ về điều đó”.

Chúa biết rõ tính cách của từng con người một. Cả Giuđa và Phêrô đều là môn đệ của Chúa, hơn thế nữa còn thuộc nhóm 12, những con người luôn gần gũi, luôn được Chúa yêu thương và dạy dỗ. Chúa biết Giuđa hay tính toán nên giao cho ông làm quản lý dù nhiều khi ông cũng hay gian dối, lọc lừa. Chúa biết Phêrô bốc đồng, nhưng được cái có nhiệt tình, nên giao cho ông sứ mạng đứng đầu…

Chúa vẫn dành những tình cảm đặc biệt cho Giuđa như tin tưởng giao cho ông chức quản lý, trao bánh cho ông… Nghĩa là tình yêu vẫn lên tiếng gọi mời ông, nhưng ông đã không lấy tình yêu đáp trả lại tình yêu.

Còn Phêrô sau khi chối Thầy: “Chúa quay lại nhìn ông, ông sực nhớ lời Chúa đã bảo ông… ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết” (Lc 22, 61-62).

Điều quan trọng là biết sai để sửa sai, biết mình ngã để chỗi dậy. Giá trị của con người không hệ tại ở bao nhiêu việc đạo đức tốt lành, nhưng hệ tại ở chỗ họ đã nhận ra được bao nhiêu sự sai trái của mình và đã sửa đổi được bấy nhiêu?

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, xin cho con trỗi dậy mỗi lần sa ngã và mạnh dạn ngã vào lòng Chúa để được Chúa ôm ấp vỗ về. Xin cho con biết quay trở về mỗi khi biết mình đã đi hoang.

THỨ TƯ TUẦN THÁNH

LỜI CHÚA: Tin Mừng Mt 26, 14-25

“Khi ấy, một trong nhóm Mười Hai tên là Giuđa Iscariô, đi gặp các thượng tế và thưa với họ: “Các ông cho tôi bao nhiêu, tôi nộp Người cho các ông?” Họ liền ấn định cho ba mươi đồng bạc. Và từ đó, hắn tìm dịp thuận tiện để nộp Người.

Ngày thứ nhất trong tuần lễ ăn Bánh không men, các môn đệ đến thưa Chúa Giêsu rằng: “Thầy muốn chúng con sửa soạn cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua ở đâu?” Chúa Giêsu đáp: “Các con hãy vào thành đến với một người kia, và nói rằng: Thầy bảo, giờ Ta đã gần, Ta sẽ mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ tại nhà ông”. Các môn đệ làm như Chúa Giêsu đã truyền và sửa soạn Lễ Vượt Qua.

Chiều đến, Người ngồi bàn ăn với mười hai môn đệ. Và khi các ông đang ăn, Người nói: “Thầy nói thật với các con: có một người trong các con sẽ nộp Thầy”. Môn đệ rất buồn rầu và từng người bắt đầu hỏi Người: “Thưa Thầy, có phải con không?” Người trả lời: “Kẻ giơ tay cùng chấm vào đĩa với Thầy, đó chính là kẻ sẽ nộp Thầy. Thật ra, Con Người sẽ ra đi như đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người, thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!”

Giuđa kẻ phản bội cũng thưa Người rằng: “Thưa Thầy, có phải con chăng?” Chúa đáp: “Ðúng như con nói”.

SUY NIỆM:

Ngày cuối cùng bên cạnh các môn đệ có rất nhiều những tình cảm, nhưng thao thức làm cho Ngài đau xé con tim nhân tính của Ngài chính là: “Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy” (Mt 26, 21). Câu nói này làm cho “các môn đệ buồn rầu quá sức”. Chính Chúa Giêsu cũng đau đớn xác nhận: “Thà nó đừng sinh ra thì hơn!” (Mt 26,24).

Đó không phải chỉ là câu chuyện xảy ra cho một mình Giuđa cách đây hơn 2000 năm, mà nỗi đau của Chúa vẫn còn âm ỉ, trái tim Chúa vẫn còn thao thức cho đến tận bây giờ, khi có những người vẫn còn những lần phản bội Chúa.

Mức độ không đến nỗi như Giuđa, nhưng ở với Chúa bao lâu nay tôi vẫn ngấm ngầm ý đồ phản bội trong tư tưởng, lời nói và việc làm. Nhiều khi đã thực sự phản bội Chúa khi không đi theo đường lối Chúa. Tôi “đồng sàng nhưng dị mộng” với Chúa. Là con cái Chúa nhưng tôi đã không sống đúng với tư cách một người con cái Chúa.

Hậu quả sẽ thật tệ hại nếu tôi không nghe lời nhắc nhở của Chúa, của Hội thánh và của những người xung quanh để quay trở về hiệp thông với Chúa. Có lẽ Chúa cũng sẽ nói với tôi và những ai trong những lần sai lỗi mà vẫn còn cố chấp: “Thà nó đừng sinh ra thì hơn”.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, xin cho con đừng như Giuđa, dù được Chúa nhắc nhở vẫn cố chấp trong tội của mình. Xin cho con quay trở về với Chúa, vì bao lâu còn ý thức sám hối là bấy lâu con còn cơ hội để được sống hạnh phúc với Chúa.

THỨ NĂM TUẦN THÁNH

LỜI CHÚA: Tin Mừng Ga 13, 1-15

Trước ngày Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ Mình phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ đến cùng. Sau bữa ăn tối, ma quỷ gieo vào lòng Giuđa Iscariô, con Simon, ý định nộp Người. Người biết rằng Chúa Cha đã trao phó mọi sự trong tay mình, và vì Người bởi Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa. Người chỗi dậy, cởi áo, lấy khăn thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu; Người liền rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Vậy Người đến chỗ Simon Phêrô, ông này thưa Người rằng: “Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?” Chúa Giêsu đáp: “Việc Thầy làm bây giờ con chưa hiểu, nhưng sau sẽ hiểu”. Phêrô thưa lại: “Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con”. Chúa Giêsu bảo: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy”. Phêrô liền thưa: “Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa”. Chúa Giêsu nói: “Kẻ mới tắm rồi chỉ cần rửa chân, vì cả mình đã sạch. Tuy các con đã sạch, nhưng không phải hết thảy đâu”. Vì Người biết ai sẽ nộp Người nên mới nói: “Không phải tất cả các con đều sạch đâu”.

Sau khi đã rửa chân cho các ông, Người mặc áo lại, và khi đã trở về chỗ cũ, Người nói: “Các con có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng? Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì đúng thật Thầy như vậy. Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Vì Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con”.

SUY NIỆM:

Chiều hôm nay là buổi chiều làm cho con tim của Chúa phải nhiều lần đau nhói vì xúc động. Tất cả chỉ vì Ngài quá yêu thương: “Đức Giêsu biết giờ của người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thượng họ đến cùng” (Ga 12, 1).

Trước tiên là sự kiện Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể. Đây là sáng kiến độc nhất vô nhị trong toàn thể vũ trụ này. Chỉ một mình Thiên Chúa với tình yêu thương mới có thể nghĩ ra cách thức để được ở lại với con người. Đây là một tình yêu hiến mình.

Kế đến là việc Chúa Giêsu lập bí tích Truyền chức thánh để thông ban chức linh mục cho một số người Chúa tuyển chọn, với mục đích có người là hình ảnh của Chúa ở trần gian này, và thực hiện hành động ban phát lương thực là chính Mình Máu Ngài để nuôi sống những con người yêu thương, muốn sống gắn bó với Ngài. Đây là một tình yêu trao ban.

Cuối cùng là hành động quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ như một người đầy tớ phục vụ cho chủ mình. Chúa muốn để lại cho các môn đệ và mỗi người chúng ta bài học về tình yêu phục vụ.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa xin cho con biết lấy tình yêu đáp đền tình yêu. Cũng xin cho con biết lấy tình yêu xóa bỏ hận thù và khơi thông tình thương mến.

THỨ SÁU TUẦN THÁNH

LỜI CHÚA: Bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô

SUY NIỆM:

Con là ai trong hành trình thương khó của Chúa?

Con có phải là những Thượng tế, những biệt phái và Pharisêu muốn tiêu diệt Chúa để đừng làm phiền, đừng ai nhắc nhở những sai trái của con không?

Con có phải là dân chúng bàng quang, hoặc có tâm lý hùa theo đám đông mà không dám nói lên chính kiến của mình, để sẵn sàng làm ngơ hoặc hùa theo để kết án người khác?

Con có phải là những tên lính đã đánh đòn, đóng đinh, hành hạ Chúa cho hả cơn giận của con, mặc dù con biết Chúa không có tội gì. Có những bực bội, bức bối gì, về nhà con đổ trên đầu những người thân mà con có vẻ “trên cơ” họ?

Con có phải là những người phụ nữ thành Giêrusalem khóc thương chỉ vì tội nghiệp Chúa chứ chưa biết phải làm sao để cho Chúa hết đau?

Con có phải là tên trộm oán trách cuộc đời và thách thức Chúa: “Ông là con Thiên Chúa thì tự cứu mình và cứu chúng tôi với”?

Hay con là Simon sẵn sàng vác lấy thánh giá Chúa bằng cách san sẻ nỗi đau với người khác?

Hay con là Đức Mẹ, mạnh dạn, can trường bước theo con đường đau khổ của Chúa, không một vẻ yếu nhược, không một lời than thở, không một chút kêu than?

Hay con là Gioan đón lấy sứ mạng của Chúa để sẵn sàng hiến thân mình cho những chương trình, hoạch định của Chúa?

Có lẽ, lạy Chúa, xin cho con giống như viên đại đội trưởng: “Thấy sự việc xảy ra như thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa” (Lc 23, 47). Đã biết bao lần con ngước nhìn lên Chúa bị đóng đinh, nhưng con đã xác tín niềm tin vào Chúa chưa? Câu hỏi này tiếp tục vang vọng trong tâm hồn con. Vang mãi, vang mãi cho đến chết.

THỨ BẢY TUẦN THÁNH

LỜI CHÚA: Tin Mừng Mt 28, 1-10

Qua chiều ngày Sabbat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa tảng sáng, Maria Mađalêna và bà Maria khác đến thăm mồ. Bỗng chốc đất chuyển mạnh vì Thiên Thần Chúa từ trời xuống và đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên đó. Mặt Người sáng như chớp và áo Người trắng như tuyết. Vì thế những lính canh khiếp đảm run sợ và hầu như chết. Nhưng Thiên Thần lên tiếng và bảo các người nữ rằng: “Các bà đừng sợ. Ta biết các bà tìm Chúa Giêsu, Người đã chịu đóng đinh. Người không có ở đây vì Người đã sống lại như lời Người đã nói. Các bà hãy đến mà coi nơi đã đặt Người và đi ngay bảo các môn đệ Người rằng: Người đã sống lại, và kìa Người đến xứ Galilêa trước các ông: Ở đó các ông sẽ gặp Người. Đây Ta đã báo trước cho các bà hay”.

Hai bà vội ra khỏi mồ, vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Người. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: “Chào các bà”. Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: “Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó, họ sẽ gặp Ta”.  

SUY NỆM:

Sứ điệp của Đấng Phục Sinh trong đêm nay là “Đừng sợ”.

Trong khi quân lính: “Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi” (Mt 28, 4). Thì thiên thần Chúa trấn an các phụ nữ: “Này các bà, đừng sợ!” (Mt 28, 5). Những lời đầu tiên của Đấng Phục Sinh cũng là: “Chị em đừng sợ” (Mt 28, 10).

Lính canh sợ hãi vì họ vừa hành hình một con người vô tội, nay thấy người đó sống lại. Điều này thật khủng khiếp, với cái nhìn bình thường thì đây là ma quỷ hoặc oan hồn, về để hãm hại mình.

Còn mấy người phụ nữ trong bài Tin mừng hôm nay lại háo hức, chờ đợi đến sáng để được gặp một con người mình thương mến, để làm những cử chỉ thương mến cuối cùng. Cử chỉ này có lẽ bình thường chúng ta không dám làm, đặc biệt là các bà: Ra mộ vào sáng sớm tinh sương, tìm người lăn tảng đá ra, ướp lại xác chết cho cẩn thận hơn… Các bà chỉ mong trọn tình vẹn nghĩa trong giây phút cuối cùng cho xong.

Thế nhưng Đấng Phục Sinh đã cho các bà niềm vui sâu xa và vĩnh cửu, là cho các bà được gặp gỡ Đấng Phục Sinh. Nhưng muốn gặp gỡ Đấng Phục Sinh các bà phải vượt qua được nỗi sợ hãi. Chính vì vậy mà Đấng Phục Sinh chẳng những sai thiên thần, mà đích thân Ngài cũng đã trấn an các bà: Đừng sợ.

Trong cuộc sống hiện tại có nhiều nỗi sợ hãi khiến tâm hồn tôi không được bình an. Mà một khi không bình an thì chắc chắn không thể có niềm vui trong tâm hồn.

Sợ hãi vì kinh tế của gia đình. Sợ hãi không biết tôi có sống trọn lời cam kết trong bí tích Hôn phối không? Sợ hãi vì việc giáo dục con cái ngày hôm nay khó khăn quá. Sợ hãi vì có nhiều cám dỗ khiến đức tin của tôi bị lung lay…

Chúa đã Phục Sinh và Ngài cũng sẽ nói với tôi: Đừng sợ! Vì có Chúa luôn ở bên. Nếu tôi vững tin vào Chúa thì chắc chắn tôi sẽ vượt qua được tất cả những nỗi sợ hãi trong cuộc sống đang ám ảnh tôi.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, xin cho con tin tưởng vào mầu nhiệm Tử Nạn- Phục Sinh của Đức Kitô, để con cũng biết chết đi mỗi ngày, hầu có thể đón nhận niềm vui Phục Sinh trong Chúa. Lúc đó con sẽ không còn sợ hãi bất cứ điều gì, vì con đã chiến thắng được chính bản thân con bằng sức mạnh của Ngài.

Hạt giống nảy mầm | Chúa nhật 5 | Mùa Chay | Năm A

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY

Ga 11,1-45

A. Hạt giống…

Bài Tin Mừng Chúa nhật thứ 3 mặc khải Chúa Giêsu là nguồn nước hằng sống ; bài Tin Mừng Chúa nhật thứ tư mặc khải Chúa Giêsu là ánh sáng thế gian, còn bài Tin Mừng hôm nay mặc khải Chúa Giêsu là sự sống.

Ta cần lưu ý rằng, theo Tin Mừng Gioan, “sự sống” không chỉ là sự sống của thể xác mà là sự sống trọn vẹn, chia sẻ chính sự sống của Thiên Chúa. Ladarô đã được Chúa Giêsu trả lại sự sống thể xác nhưng về sau thân xác ông cũng sẽ lại chết như bao người khác. Cho nên sự sống thể xác không quan trọng và quý giá cho bằng sự sống trọn vẹn trong sự kết hợp với Thiên Chúa cả ở đời này lẫn đời sau.

B. … nảy mầm.

1. Con người chúng ta quá lo lắng về cuộc sống thể xác, cho nên hễ gặp bất cứ thứ gì có thể làm hại hoặc giết chết sự sống này thì chúng ta rất sợ hãi.

Mặc khải hôm nay một mặt có thể giúp giải thoát chúng ta khỏi những thứ sợ hãi đó. “Chúng con đừng sợ những thứ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn”. Mặt khác nó còn giúp chúng ta thấy được một sự sống khác quý giá và trường tồn hơn mà chúng ta phải chăm sóc. 

2. Thực ra, sự sống đời này là gì ? Ngôn sứ Isaia đã suy nghĩ : nó chỉ như cỏ hoa sớm nở tối tàn (Bởi thế người ta mới nói “cuộc sống phù du”). Và Isaia kết luận “Chỉ có lời Chúa là tồn tại vĩnh viễn”. (x.Is 40,7-8)

3. Khổ đau to lớn thật, nhưng đối với Thiên Chúa, con người còn to lớn hơn đau khổ nhiều. (Lấy ý của thi hào Tagore)

4. “Nếu những hạt giống trong lòng đất đen mà còn có thể biến thành những cánh hoa hồng xinh đẹp như thế, thì trái tim con người còn thể biến thành thế nào nữa trong cuộc hành trình hướng đến các vì sao”. (Gilbert K. Chesterton)